Thứ bảy, 4/4/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ bảy, 4/4/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

CHỜ ĐỢI GÌ TỪ CHỨNG KHOÁN?

Chịu ảnh hưởng từ những tác động xấu của tình hình kinh tế- tài chính thế giới, TTCK Việt Nam đang bước vào giai đoạn giằng co, thử thách tâm lý của các NĐT. Dự báo trong thời gian tới, TTCK sẽ còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, câu hỏi được đặt ra và cũng là vấn đề được nhiều người quan tâm hiện nay là: Nên lựa chọn phương thức đầu tư như thế nào trong giai đoạn sắp tới?

 

Chờ đợi gì từ chứng khoán?

 

Thăng trầm chứng khoán

Tháng 11 vừa qua thực sự là những ngày đầy thử thách đối với TTCK và các NĐT. VN- Index liên tục tụt dốc và phá đáy. Ngày 26/11/2008, một kỷ lục buồn của chứng khoán Việt Nam đã được tạo lập khi Vn-Index lập đáy mới ở 311,74 điểm - mức thấp nhất kể từ đầu năm 2006. Tại sàn Hà Nội, HaSTC-Index cũng chính thức xuyên thủng đáy khi mốc 100 điểm-mức khởi điểm ban đầu tại sàn này.

Nhìn lại TTCK Việt Nam trong  thời gian qua có thể dễ dàng nhận thấy xu hướng mất điểm đã kéo dài hầu như liên tục. TTCK rất nhiều phiên ngập trong sắc đỏ, giao dịch không có đột biến và thế áp đảo hầu như nghiêng về bên bán. Trong khá nhiều phiên giao dịch, dư bán luôn kín đặc trên bảng giao dịch, chứng tỏ tấm lý bất ổn cũng như sự lo lắng của NĐT là rất lớn.

Cuộc khủng hoảng tài chính – tín dụng Mỹ đang lan rộng và làm trầm trọng thêm bức tranh kinh tế toàn cầu. Cuộc đại khủng hoảng thị trường tài chính của thế kỷ 21 đã làm cả thế giới chao đảo. Chưa bao giờ các định chế tài chính hàng đầu thế giới lại sụp đổ với một tần suất cao như vậy. Bóng ma khủng hoảng tài chính toàn cầu đã thực sự đe dọa đến tâm lý của cộng đồng nhà đầu tư (NĐT) tại Việt Nam. Sự tụt dốc không phanh của TTCK trong nước không nằm ngoài dự báo của nhiều nhà phân tích. Nhiều chuyên gia nhận định: Nguyên nhân của sự trồi, sụt trên TTCK Việt Nam chịu ảnh hưởng khá nặng theo những biến động của TTCK thế giới, đặc biệt là Mỹ. Đây cũng chính là xu thế chung trong vòng gần 2 tháng nay của TTCK Việt Nam. Đặc biệt khi trong tháng 11 vừa qua đã chứng kiến hàng loạt biến cố và những chấn động ghê gớm của thị trường tài chính toàn cầu. Ngày 19/11, TTCK Mỹ đã có cú suy giảm lịch sử khi các chỉ số rơi xuống mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua: chỉ số Dow Jones xuyên thủng mức đáy 8.000 điểm, chỉ số S&P 500 và Nasdaq rơi xuống mức thấp nhất từ năm 2003 trở lại đây. Hàng loạt cổ phiếu ngân hàng lớn của Mỹ mất giá thê thảm: Citigroup giảm 23%, Bank of America giảm 14%, JPMorgan giảm 12%. Dư chấn nhanh chóng lan khỏi nước Mỹ và làm cho chứng khoán châu Âu, châu Á ngập chìm trong sắc đỏ. Chỉ số Dow Jones Stoxx 600 của châu Âu rơi xuống mức thấp nhất kể từ tháng 5/2003. Chỉ số Nikkei của Nhật Bản rơi xuống dưới mức 8.000 điểm lần đầu tiên trong 3 tuần qua. Thị trường tài chính – tiền tệ thế giới lung lay, tình  hình kinh tế thế giới cũng đầy u ám: Chỉ số sự tự tin của người tiêu dùng Mỹ đang sụt xuống mức thấp nhất trong lịch sử phản ánh tình trạng kinh tế khó khăn cũng như sự thắt lưng buộc bụng của người tiêu dùng, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã giảm dự báo về triển vọng tăng trưởng kinh tế trong năm 2009 xuống mức thấp và chuẩn bị cho khả năng tiếp tục cắt giảm lãi suất; lượng xuất khẩu của Nhật Bản giảm mạnh nhất trong 7 năm qua; 15 nền kinh tế thuộc Liên minh châu Âu thông báo tăng trưởng âm trong 2 quý liên tiếp, đánh dấu sự suy thoái đầu tiên kể từ khi hình thành khu vực đồng tiền chung châu Âu…Những diễn biến này cho thấy “bức tranh” chung của kinh tế thế giới năm 2009 sẽ đầy u ám và vì thế đã khiến cho TTCK Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực, tác động xấu đến tâm lý của NĐT trong nước và làm cho TTCK sẽ có những diễn biến khó lường.

 

Chứng khoán: Lên hay xuống?

Nhiều chuyên gia cho rằng, thời điểm này yếu tố ảnh hưởng chính đến sự suy giảm trên TTCK Việt Nam vẫn là tâm lý.  Nhận định về tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước cho rằng mặc dù tình hình kinh tế thế giới đang xuống dốc, nhưng điều đó không có nghĩa là kinh tế thế giới đang sụp đổ. Các chính phủ trên thế giới đang thực hiện những bước đi mạnh mẽ và chưa từng trong có tiền lệ để bảo đảm sự ổn định của nền kinh tế. Đối với các thị trường đang nổi, mặc dù cũng không thể thoát khỏi hệ quả suy thoái khi thị trường gặp khó khăn nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia vẫn còn những điểm sáng để NĐT tìm kiếm cơ hội, trong đó triển vọng của TTCK Việt Nam vẫn là tích cực. Thực tế tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã minh chứng cho nhận định này, đó là GDP của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng cao dựa trên nhu cầu tiêu dùng và đầu tư nội địa. So sánh với hệ thống tài chính bên ngoài, trong khi hàng loạt các ngân hàng nước ngoài phá sản, đứng bên bờ vực phá sản hoặc phải kêu gọi cứu trợ thì hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn đang ổn định… Đáng chú ý là trong thời gian qua, nhiều chính sách vĩ mô tiếp tục được đưa ra nhằm ổn định nền kinh tế. Đầu tiên phải kể đến là việc tín dụng cho bất động sản sẽ được nới lỏng hơn. Theo chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, để bảo đảm tính thanh khoản và tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, các ngân hàng  xem xét cho vay trở lại đối với những dự án bất động sản khả thi, có hiệu quả và khả năng trả nợ đúng hẹn. Đặc biệt từ ngày 21/11/2008 lãi suất cơ bản tiếp tục được hạ nhiệt. Đây là lần thứ ba trong vòng 2 tháng qua, lãi suất cơ bản và nhiều mức lãi suất VND khác được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm trong một nhóm các giải pháp tiền tệ nhằm hỗ trợ hoạt động của các ngân hàng và thúc đẩy sản xuất. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc này đồng nghĩa với việc sẽ có hàng ngàn tỷ đồng cung cấp cho hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo tính thanh khoản và có nguồn vốn hỗ trợ các DN trong nước.

Diễn biến TTCK thời gian qua cho thấy, dường như đã có sự lo lắng thái quá của NĐT trong nước khi chứng kiến cuộc khủng hoảng từ thị trường tài chính Mỹ. Theo nhận định của các nhà chuyên môn, những khó khăn của nền kinh tế Việt Nam chưa phải là đã hết, và phía trước TTCK Việt Nam vẫn đang còn không ít khó khăn và thách thức. Tuy nhiên, nhận định chung đều cho rằng, yếu tố quyết định sự ổn định cũng như tăng trưởng của TTCK một phần quan trọng thuộc về yếu tố nội. Sự biến động của TTCK Việt Nam chủ yếu do những vấn đề nội tại của nền kinh tế và tâm lý của NĐT hơn là các tác động trực tiếp từ bên ngoài. Ông Vũ Bằng, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, khẳng định TTCK Việt Nam đủ sức chống đỡ trước cơn “bão” ngoại. Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng đã trình Chính phủ đề án chống khủng hoảng để có thể phản ứng nhanh trong các tình huống.

Từ nay đến cuối năm nhìn chung TTCK sẽ còn phải đối mặt với nhiều khó khăn do những vấn đề của kinh tế vĩ mô. Theo nhận định của một số chuyên gia, những khó khăn hiện tại của nền kinh tế Việt Nam mà đặc biệt là những “căn bệnh” thuộc về cơ cấu của nền kinh tế vẫn còn đó và sẽ kéo dài ít nhất 12 tháng tới. Như vậy, TTCK chưa thể có sự đột phá trong ngắn hạn, còn nếu có điều chỉnh thì cũng sẽ không mạnh, sâu như trước. Các chuyên gia cũng cho rằng TTCK luôn rất nhạy cảm trước những chỉ số của nền kinh tế và nó sẽ có những điều chỉnh khả quan trong nửa cuối năm tới, trước khi nền kinh tế phục hồi và vì vậy, đầu tư lâu dài vào thời điểm này vẫn là hợp lý nhất.

      Câu hỏi được nhiều NĐT quan tâm hiện nay là: VN-Index sẽ giảm đến mức nào? Đây thực sự là một câu hỏi rất khó, vì các TTCK thế giới đang diễn biến khó lường, nên sẽ rất khó xác định diễn biến tới đây của TTCK Việt Nam. Chính sự khó phán đoán của thị trường trong thời gian qua là một trong những nguyên nhân khiến nhiều NĐT dừng mua bán. Tuy nhiên, trong những phiên gần đây, hiện tượng lệnh mua chặn ở mức giá sàn được đưa ra khá nhiều. Điều này cho thấy, vẫn có đối tượng gom hàng, nhưng chỉ chấp nhận mua với giá rẻ. Do đó, khi thị trường tiếp tục xuống thấp, sẽ vẫn có người mua và đây chính là sức cản để thị trường không thể xuống quá sâu…Theo một số chuyên gia thì việc đưa ra dự đoán vào lúc này là không dễ khi sự đi xuống của tình hình chứng khoán thế giới đang tác động đến tâm lý của NĐT trong nước và tạo ra tâm lý rút lui vẫn bao trùm toàn thị trường.  Trên biểu đồ VN- Index, có thể  nhận thấy xu hướng chủ đạo của thị trường là đi ngang, nó cho thấy tâm lý e dè cũng như sự ngập ngừng, lo ngại của NĐT  về một đợt tăng giá mới chưa bền vững và khó ổn định. Thị trường sẽ diễn biến theo xu hướng nào trong thời gian tới tùy thuộc vào những thông tin vĩ mô sắp tới, cả từ trong nước lẫn thế giới, đặc biệt là sự ổn định tâm lý của NĐT.

Lượt xem: 1

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Độc lập, tự chủ là là giữ vững chủ quyền và năng lực tự quyết định mọi hoạt động của quốc gia - dân tộc về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo lợi ích cao nhất của quốc gia và ý chí của người dân, không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào từ bên ngoài; trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ của quốc gia… Từ khoá: Lực lượng sản xuất mới; nền kinh tế; độc lập; tự chủ; phát triển; hội nhập; đất nước. 1. Điểm nhấn bối cảnh thế giới hiện nay Thế giới đương đại đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình địa chính trị, kinh tế và môi trường khu vực và toàn cầu, trước mắt và lâu dài; đồng thời, tác động lan toả mạnh mẽ đến tất cả các nước dù thuộc chế độ chính trị xã hội nào và có trình độ phát triển cao hay thấp ra sao..., trong đó có Việt Nam, với một số động thái nổi bật sau: Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực đa trung tâm. Nổi bật trong số đó là xu hướng gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước và nhóm nước Mỹ, EU - Nga - Trung Quốc, Ấn Độ; kéo theo dự gia tăng chi phí gắn với chạy đua quân sự và chạy đua công nghệ cao phục vụ chiến tranh tổng lực cả về quân sự, kinh tế, truyền thông, thông tin và tâm lý. Hệ thống đa phương bị thách thức ngày càng lớn, nhưng vẫn được phần đông các nước trong cộng đồng quốc tế coi trọng. Cách mạng công nghiệp 4.0 làm trầm trọng hơn xu hướng phân mảng, chia rẽ, nhất là chia rẽ số giữa các nước, các nhóm nước, gây ra những tác động lâu dài đối với cục diện thế giới và khu vực. Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn, dù chậm lại; các hoạt động vận tải, di chuyển vật chất toàn cầu suy giảm, nhường chỗ cho những phương cách, lĩnh vực toàn cầu hoá phi vật chất. Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng, còn đầu tư quốc tế có thể giảm so với trước và được cấu trúc lại theo hướng gia tăng tính bền vững của các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu và hướng vào các lĩnh vực xanh, lĩnh vực số; sự cân bằng ngày càng đậm nét hơn giữa tự do hóa, mở cửa với tự cường; giữa hội nhập sâu rộng, toàn diện với tự chủ chiến lược; giữa tham gia cuộc chơi chung với nâng cao khả năng chống chịu bên trong từng quốc gia, từng nền kinh tế. Tính bền vững, bao trùm được quan tâm hơn; chuyển đổi số và kinh tế số trở thành xu thế lớn; tiến trình khu vực hóa được đẩy nhanh hơn. Đồng thời, sẽ tiếp tục gia tăng sự phân mảnh công nghệ và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng kinh tế thế giới theo hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất vào các thị trường quốc gia cùng phe nhóm và đồng minh, bạn bè hoặc trở lại trong nước. Tình trạng chạy đua, đối kháng về khoa học - công nghệ, đối kháng về kinh tế, cạnh tranh tài nguyên, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chạy đua bảo vệ sở hữu trí tuệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế bị thách thức nghiêm trọng hơn bởi chính trị cường quyền, cạnh tranh nước lớn. Nhận thức chung về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, hệ thống đa phương và ngoại giao đa phương của đa số các nước được nâng lên cùng với “áp lực buộc phải chọn phe”. Các nước vừa và nhỏ càng coi trọng vai trò của luật pháp quốc tế trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của mình. Ngoài ra, biến động khí hậu cực đoan và yêu cầu về bảo vệ môi trường và sức khoẻ người tiêu dùng cũng ngày càng cao, nghiêm ngặt và mở rộng hơn. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gia tăng và đan xen, cộng hưởng gây hậu quả nặng nề hơn cho mỗi quốc gia và toàn thế giới, cả hiện tại và tương lai. Về tổng thể, thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại và áp lực nợ công và rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế, lạm phát, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng so với 3 thập kỷ trước. Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Một trong những đặc trưng thời đại hiện nay là sự xuất hiện các cấu trúc lực lượng sản xuất mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (như vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người và công nghệ tự động mới, AI và dữ liệu…), không gian kinh tế (nền kinh tế số và không gian kinh tế số), đồng tiền số/ảo và thị trường mới (mua bán các yếu tố và thành phẩm kinh tế số…)… Đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất mới này là ngày càng hoạt động theo chuỗi, kết nối thành hệ thống dây chuyền, vừa có tính khép kín, vừa mang tính mở cao. Các biến động về cung - cầu, giá cả và chu kỳ thị trường liên quan cũng có nhiều động thái mới lạ, nhanh chóng, khó lường và mạnh mẽ, lan toả rộng, với phạm vi ngày càng bao quát hơn cả vĩ mô và vi mô, trong nước và quốc tế. Không gian kinh tế và năng suất lao động tăng nhanh, song các ranh giới và chủ quyền quốc gia ngày càng bị mờ dần trước sức mạnh, sự phụ thuộc và sự độc quyền công nghệ. Các lợi thế so sánh truyền thống cạn dần hoặc giảm dần ý nghĩa, trong khi các thách thức và cả các cơ hội mới xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt, một quốc gia và tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các chuỗi cung ứng đầu vào, thị trường đầu ra và các đối tác công nghệ liên quan ngoài biên giới. Dữ liệu và thông tin, cũng như công nghệ và khả năng đổi mới, sáng tạo trở thành nguồn tài nguyên mới vô giá, ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh hiệu quả của quốc gia và doanh nghiệp trong các hoạt động kinh tế mới, với nhiều sản phẩm và thị trường mới khó tính đúng tính đủ giá trị bằng tiền như các dạng kinh té vật chất truyền thống. Ngày càng nhiều ngành nghề truyền thống bị mất đi và xuất hiện những lĩnh vực, nghề nghiệp mới; cơ cấu lao động và yêu cầu giáo dục, đào tạo và đảm bảo an sinh xã hội cũng theo đó mà có sự chuyển dịch mới, sâu sắc. Trong bối cảnh đó, tính độc lập, tự chủ của quốc gia bị thách thức mạnh, thậm chí mất đi nhiều ý nghĩa nội hàm yêu cầu cũ, nhất là các quốc gia chậm thích ứng với chuyển đổi số, không có công nghệ nguồn và năng lực đổi mới, sáng tạo cao, thiếu phản ứng thị trường và chính sách nhanh nhạy và hiệu quả. Cách mạng công nghiệp 4.0 trong khi đem lại cơ hội học hỏi, gia tăng các loại hình việc làm mới, cơ hội “rượt đuổi và bắt kịp” cho những nước đi sau như Việt Nam, thì cũng làm tăng áp lực về và thách thức về nâng cao năng lực tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, cơ hội thu hút FDI và đảm bảo an sinh xã hội cho lao động Việt Nam. Thứ ba, các tiêu chí đo lường sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Ngày nay sức mạnh của các nước thường được đo bằng: i, Sức mạnh cứng: sức mạnh kinh tế (quy mô GDP, khả năng cạnh tranh thị trường và sự lành mạnh tài chính), tiềm lực khoa học - công nghệ; sức mạnh quốc phòng (số lượng quân đội, chi tiêu quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, mạng lưới đồng minh…); ii, Sức mạnh mềm (sức hấp dẫn về mô hình, hệ giá trị; số lượng đối tác, vị thế, ảnh hưởng trên thế giới…); iii, Sức mạnh thông minh (khả năng sử dụng các loại sức mạnh để đạt được mục tiêu quốc gia, sự đúng đắn của chính sách và hiệu quả triển khai chính sách, khả năng điều chỉnh, phản ứng khi khủng hoảng…). Tổng thể sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Sức mạnh quốc gia còn được đánh giá theo nhiều tiêu chí khác tuỳ góc nhìn của các tổ chức quốc tế, song độc lập, tự chủ và đảm bảo sức chống chịu cao của nền kinh tế luôn là tiêu chí trọng tâm hội tụ và đo lường sức mạnh kinh tế quốc gia cả hiện tại và tương lai. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy, không có ngoại lệ không đổ vỡ và phá sản nào cho bất kỳ mô hình phát triển, nền kinh tế quốc gia và doanh nghiệp, cũng như mọi tỷ phú thế giới nào nếu không có nhận thức đúng và kịp thời phản ứng linh hoạt chính sách và thị trường trong một bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng nhiều biến động phức tạp và khó lường. Đặc biệt, sự thành công của mỗi quốc gia tỷ lệ thuận với năng lực và hiệu lực, hiệu quả xây dựng và vận hành cơ chế đảm bảo hài hoà lợi ích, hội tụ, lan toả và phát huy được tổng hợp sức mạnh, các nguồn lực trong nước và quốc tế cho các mục tiêu lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và thực tiễn trong nước, quốc tế; giữ vững niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin đầu tư và tiêu dùng thị trường; củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội cao; chủ động bám sát tình hình, tăng năng lực thông tin, dự báo và linh hoạt các kịch bản ứng phó kịp thời. 2. Nhận diện nền kinh tế độc lập tự chủ và sức chống chịu nền kinh tế theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, nêu rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 01/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế. Đại hội XII (năm 2016), xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế… kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Trong văn kiện Đại hội XIII, lần đầu tiên Đảng nêu rõ yêu cầu: Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế thế giới; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn bó mật thiết với giữ vững các cân đối lớn đi đôi với bảo đảm an ninh kinh tế; Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác; Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường trong nước; Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; Giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; Tăng cường đào tạo cán bộ… có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…; Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; Phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điểm mới trong định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Đại hội XIII là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị cả ở cấp quốc gia và doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động của những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường; phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế; đẩy mạnh đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Đặc biệt, văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Điều đó là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. Đây cũng là thông điệp khẳng định sự nhất quán trong nhận thức chính trị nói chung của Đảng ta về định hướng nội dung và mục tiêu con đường đổi mới, hội nhập của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, phù hợp với thực tiễn trong nước và xu hướng chung trên thế giới. Đại hội XIII cũng phân định rõ hơn vai trò, nội dung, yêu cầu và các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước trong phát triển và củng cố các quan hệ gắn kết giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; lần đầu tiên mở rộng, nhấn mạnh và làm rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội, thay vì chỉ có quan hệ Nhà nước với Thị trường trong văn kiện các kỳ Đại hội trước đây… 3. Yêu cầu mới và giải pháp cần có để đảm bảo tính độc lập tự chủ và tăng sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh trên, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục coi trọng giải quyết một số vấn đề sau: Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung yêu cầu mô hình kinh tế tự chủ, linh hoạt hoá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhà nước cần điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đầy đủ và thực chất của Việt Nam. Theo đó, thu hẹp dần cả về quy mô, tỷ trọng và phạm vi hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh tế vì lợi nhuận, tập trung nắm chủ đạo một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt và hoạt động do Nhà nước cần độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Đồng thời, phương thức chủ đạo cũng mềm và tỷ lệ cũng linh hoạt hơn, chủ yếu tham gia dưới hình thức cổ phần và giảm tối đa việc Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế thông qua các doanh nghiệp nhà nước, chuyển một số nhiệm vụ mà các bộ, ngành, cơ quan nhà nước không cần thiết phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đảm nhận. Theo thống kê chung trên thế giới, ở các nước, Chính phủ chỉ giữ 20% vốn tại doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 5%-20% GDP… Thứ hai, đề cao vai trò kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, vừa thu hút công nghệ từ bên ngoài, vừa tăng cường năng lực đổi mới, sáng tạo và tự chủ công nghệ trong nước. Việt Nam cần đồng bộ và đa dạng hoá nhiều giải pháp từ chính trị, đối ngoại đến các cơ chế, chính sách kinh tế - tài chính thích ứng bảo đảm lòng tin chiến lược từ đối tác, nhất là các “đối tác chiến lược toàn diện”, để nhận được đầu tư FDI vào các ngành công nghệ cao hoặc được mua công nghệ cao, cho phép Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng công nghệ cao “mang tính bạn bè” trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, triển khai nhanh và hiệu quả thực chất các chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Do đó, phải sớm thể chế hoá chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của đất nước về tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm; lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo trong tầm nhìn chung của đất nước. Nhà nước bên cạnh việc phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước, cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, có sứ mệnh dẫn dắt, hỗ trợ trở lại các doanh nghiệp nội địa khác cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải có chính sách riêng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, cũng như thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới công nghệ, tham gia các lĩnh vực chiến lược, phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, an ninh năng lượng và một số lĩnh vực đặc biệt trong các dự án quan trọng quốc gia; kiểm soát chặt chẽ tình trạng doanh nghiệp độc quyền và thao túng chính sách; bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu (trong đó có quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình), quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực thi hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân; giảm thiểu rủi ro pháp lý, hạn chế tối đa tình trạng thay đổi chính sách đột ngột gây tổn thất cho doanh nghiệp; tạo lập cơ chế hỗ trợ và bảo vệ nhà đầu tư tư nhân, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo… Thứ ba, củng cố niềm tin chính trị, nỗ lực đột phá thể chế, tinh gọn và nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước và toàn hệ thống chính trị để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước theo hướng độc lập, tự chủ. Động lực mới được cộng hưởng và gắn với kết quả trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài của quá trình tinh gọn bộ máy; củng cố lòng tin, cải thiện vị thế và sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, khai thác hiệu quả cơ hội đầu tư mới và các nguồn lực tiềm năng cho phát triển cả vĩ mô và vi mô, trước mắt và lâu dài, trong nước và ngoài nước. Với tinh thần đó, trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ thời gian tới cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là về hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; coi trọng duy trì sự ổn định và phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hội nhập quốc tế; thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới động lực tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh chất lượng của nền kinh tế; tập trung tạo mọi điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết và lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hoà Nhà nước - Thị truờng - Xã hội trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách đa dạng hóa và phối hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế; khả năng tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và giữ vững lòng tin trên thị trường, củng cố uy tín quốc gia và niềm tin chiến lược quốc tế vào các đột phá thể chế Việt Nam có tính hội nhập cao và bền vững hơn, từng bước định hình một tầm nhìn mới, một thực tiễn mới và mở ra triển vọng phát triển mới trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển mình hội nhập cùng thế giới… Không ngừng hoàn thiện, củng cố nhận thức toàn diện, đầy đủ, sâu sắc và tổ chức xây dựng hiệu quả mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, có sức chống chịu cao ở nước ta là biểu hiện và thước đo sự thành công bản lĩnh, trí tuệ về Đổi mới và Cách mạng của Đảng. Đồng thời, đó cũng là quá trình tạo lập và hiện thực hóa các mục tiêu, động lực và cơ chế để gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và để người dân được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn thành quả của công cuộc đổi mới; để giữ vững được ổn định chính trị và kinh tế, củng cố đồng thuận và đoàn kết xã hội, không ngừng cải thiện các quan hệ và vị thế quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn… Tài liệu tham khảo: 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 102; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2016, tr. 111; 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021; 4. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; 6.https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824082/quan-diem-moi-ve-xaydung-nen-kinh-te-viet-nam-doc-lap%2C-tu-chu-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx#. Tác giả: PGS.TS Ngô Thanh Hoàng, Ủy viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TS Nguyễn Minh Phong, Báo Nhân dân (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

Ổn định vĩ mô 2026: Kỷ luật chính sách và dư địa phát triển

Bước vào năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục chịu tác động bởi bất định địa chính trị, phân mảnh thương mại và biến động tài chính - tiền tệ. Với độ mở lớn, Việt Nam chỉ có thể theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao một cách bền vững khi giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, qua đó tạo “dư địa” cho chính sách tài khóa - tiền tệ và đầu tư phát triển. Bài viết làm rõ bản chất của dư địa chính sách trong kỷ nguyên bất định, nhấn mạnh yêu cầu kỷ luật tài khóa, kỷ cương đầu tư công và vai trò của kiểm toán công trong phòng ngừa rủi ro, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước. Kỷ nguyên bất định và yêu cầu “neo” ổn định vĩ mô Nếu giai đoạn trước, rủi ro kinh tế thường xuất hiện theo “một cú sốc” (khủng hoảng tài chính, dịch bệnh, biến động dầu khí), thì giai đoạn hiện nay, rủi ro có xu hướng chồng lớp: vừa là địa chính trị - an ninh năng lượng, vừa là phân mảnh thương mại - chuỗi cung ứng, vừa là biến động dòng vốn - tỷ giá, lại đồng thời chịu áp lực từ chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Đặc tính mới của bất định là khó dự báo, lan truyền nhanh và kéo dài, khiến “độ trễ” chính sách tăng lên khi phản ứng chậm, chi phí ổn định vĩ mô sẽ lớn hơn; khi phản ứng quá mạnh hoặc thiếu phối hợp, rủi ro mất cân đối lại tích tụ.Trong bối cảnh đó, ổn định kinh tế vĩ mô không chỉ nhằm “giữ trật tự chỉ tiêu” (lạm phát, tỷ giá, bội chi, nợ công), mà quan trọng hơn là neo kỳ vọng của thị trường và người dân: kỳ vọng lạm phát, kỳ vọng tỷ giá, kỳ vọng lãi suất và kỳ vọng về tính nhất quán của chính sách. Một nền kinh tế muốn tăng tốc phải có “đường băng” ổn định đủ dài để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, ngân hàng yên tâm cấp tín dụng đúng chuẩn và Nhà nước có đủ dư địa xử lý cú sốc khi cần thiết.  Nền tảng năm 2025: “đệm an toàn” quan trọng cho 2026 Điểm thuận lợi của Việt Nam khi bước vào năm 2026 là nền tảng vĩ mô năm 2025 tương đối tích cực. Theo công bố của cơ quan thống kê, tăng trưởng GDP năm 2025 đạt mức cao (8,02%), trong khi lạm phát bình quân được kiểm soát quanh ngưỡng mục tiêu của Quốc hội. Đây là hai biến số then chốt tạo ra tính tin cậy cho điều hành tăng trưởng cao, giúp cải thiện nguồn thu và năng lực trả nợ; lạm phát ổn định giúp giảm chi phí vốn và giữ sức mua của người dân. Một lợi thế đáng chú ý khác là dư địa tài khóa. Các báo cáo chính thức những năm gần đây cho thấy tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam đã giảm đáng kể so với giai đoạn 2020-2021, tạo khoảng trống để ưu tiên chi đầu tư phát triển, nhất là các dự án hạ tầng chiến lược, năng lượng, logistics và chuyển đổi số. Tuy nhiên, chính “khoảng trống” này cũng có thể trở thành rủi ro nếu xuất hiện tâm lý chủ quan. Dư địa tài khóa không phải là “quyền chi tiêu rộng tay”, mà là nguồn lực chiến lược cần được quản trị bằng kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Dư địa chính sách năm 2026: có, nhưng không vô hạn Trong điều hành kinh tế, “dư địa chính sách” thường bị hiểu đơn giản là còn “room” nợ công, còn “room” lạm phát, còn “room” tín dụng. Cách hiểu đó đúng nhưng chưa đủ. Bản chất của dư địa chính sách là khả năng triển khai các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng mà không làm suy yếu ổn định vĩ mô trung hạn. Dư địa tài khóa cơ hội mở rộng đầu tư phát triển, nhưng phải “đúng dự án - đúng tiến độ - đúng hiệu quả”. Khi thế giới bất định, vai trò của tài khóa càng nổi bật, bởi đầu tư công và chi tiêu công có thể tạo lực kéo tổng cầu, kích hoạt đầu tư tư nhân, đồng thời nâng năng lực cung ứng dài hạn. Nhưng tài khóa chỉ thực sự hiệu quả khi chi tiêu chuyển hóa thành năng lực sản xuất mới và năng suất mới. Nếu đầu tư công dàn trải, đội vốn, chậm tiến độ, hoặc chọn dự án theo “cơ chế xin - cho”, thì chi tiêu sẽ làm tăng nghĩa vụ nợ mà không tạo ra năng lực trả nợ tương ứng, khiến dư địa nhanh chóng thu hẹp. Vì vậy, mở rộng tài khóa năm 2026 cần bám 3 kỷ luật: (i) Kỷ luật lựa chọn dự án theo hiệu quả - lan tỏa - khả năng hoàn thành; (ii) Kỷ luật thực hiện (tiến độ, chất lượng, định mức, kiểm soát đội vốn); (iii) Kỷ luật minh bạch - kiểm toán - công khai để chống thất thoát, lãng phí và lợi ích nhóm. Dư địa tiền tệ: linh hoạt nhưng phải nâng “chất lượng tín dụng”. Tiền tệ có thể hỗ trợ tăng trưởng thông qua lãi suất, thanh khoản và tín dụng. Nhưng trong kỷ nguyên bất định, bài toán quan trọng không phải chỉ là “tăng tín dụng bao nhiêu”, mà là tín dụng chảy vào đâu và rủi ro được kiểm soát thế nào. Nếu tín dụng tăng nhanh nhưng dồn vào các phân khúc đầu cơ, thị trường tài sản dễ biến động, hoặc doanh nghiệp yếu kém, thì rủi ro nợ xấu tăng lên, chi phí xử lý hệ thống sẽ lớn, làm “đóng” dư địa chính sách của các năm sau. Điều hành tiền tệ năm 2026 vì thế cần nhấn mạnh: (i) định hướng tín dụng vào lĩnh vực tạo năng suất (sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ, hạ tầng), (ii) kiểm soát chặt rủi ro ở các lĩnh vực nhạy cảm, (iii) tăng phối hợp với tài khóa để tránh tình trạng chính sách “kéo - đẩy” ngược chiều. Dư địa đối ngoại: tăng sức chống chịu thương mại và giảm rủi ro “lan truyền”. Việt Nam có lợi thế hội nhập sâu và mạng lưới FTA rộng, nhưng cũng chịu tác động mạnh khi thị trường thế giới biến động. Dư địa đối ngoại bền vững không chỉ là dự trữ ngoại hối hay cán cân thương mại, mà còn là năng lực thích ứng tiêu chuẩn xanh - tiêu chuẩn số - truy xuất nguồn gốc và khả năng nâng tỷ lệ nội địa hóa để tránh rủi ro về xuất xứ, phòng vệ thương mại. Nói cách khác, dư địa đối ngoại phụ thuộc ngày càng nhiều vào chất lượng thể chế và năng lực doanh nghiệp, chứ không chỉ phụ thuộc vào “con số” ngắn hạn. Kỷ luật chính sách: điều kiện đủ để biến dư địa thành tăng trưởng bền vững Trong thực tiễn, nhiều quốc gia có dư địa nhưng không chuyển hóa được thành tăng trưởng bền vững vì thiếu kỷ luật chính sách. Kỷ luật ở đây gồm ba tầng: Kỷ luật tài khóa: tuân thủ trần bội chi - nợ công, minh bạch ngân sách, kiểm soát nghĩa vụ nợ tiềm ẩn; Kỷ cương đầu tư công: chống đội vốn, chống chậm tiến độ, chống phân bổ dàn trải; Kỷ luật phối hợp chính sách: tài khóa - tiền tệ - giá cả - thị trường tài sản vận hành đồng bộ, tránh tạo sốc kỳ vọng. Từ góc nhìn quản trị công, kỷ luật chính sách không thể chỉ dựa vào chỉ đạo hành chính. Nó cần cơ chế kiểm soát quyền lực tài chính công, cơ chế trách nhiệm giải trình, và đặc biệt là bằng chứng độc lập để đánh giá hiệu quả thực thi. Đây là “không gian” mà kiểm toán công có thể và cần đóng vai trò trung tâm. Trong điều kiện bình thường, kiểm toán thường được nhìn như công cụ phát hiện sai phạm và kiến nghị xử lý. Nhưng trong kỷ nguyên bất định, khi dư địa chính sách trở thành tài sản chiến lược, kiểm toán công cần được nhìn đúng vai trò như một thiết chế bảo đảm kỷ luật tài chính công, góp phần củng cố ổn định vĩ mô theo ba hướng. Thứ nhất, kiểm toán để bảo vệ kỷ luật tài khóa. Kiểm toán ngân sách, kiểm toán nợ công và nghĩa vụ nợ tiềm ẩn giúp nhận diện sớm rủi ro tài khóa, giảm khả năng “mở rộng vượt khả năng hấp thụ” và củng cố tính bền vững của chính sách chi tiêu trong trung hạn. Thứ hai, kiểm toán để nâng hiệu quả đầu tư công theo 3E (kinh tế - hiệu quả - hiệu lực). Khi mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi mở rộng đầu tư phát triển, “điểm nghẽn” không nằm ở thiếu vốn mà thường nằm ở: lựa chọn dự án, thủ tục, quản trị dự án, định mức - đơn giá và trách nhiệm của chủ đầu tư. Kiểm toán hoạt động và kiểm toán hiệu quả, nếu làm tốt, sẽ giúp chuyển từ “chi đúng” sang “chi đáng”. Thứ ba, kiểm toán để củng cố niềm tin và trách nhiệm giải trình. Niềm tin thị trường là “neo” quan trọng của ổn định vĩ mô. Một hệ thống tài chính công minh bạch, kiểm toán mạnh, công khai kết quả và theo dõi thực hiện kiến nghị nghiêm túc sẽ làm giảm “phí rủi ro” của nền kinh tế, qua đó giảm chi phí vốn, tăng sức hấp dẫn đầu tư. Năm 2026 đòi hỏi một tư duy điều hành mới: không chỉ ứng phó với rủi ro đã xảy ra, mà quản trị rủi ro ngay trong thiết kế và thực thi chính sách. Việt Nam có dư địa chính sách nhất định nhờ nền tảng vĩ mô tích cực và dư địa tài khóa cải thiện; song dư địa đó không vô hạn và có thể bị thu hẹp nhanh nếu thiếu kỷ luật tài chính công, thiếu kỷ cương đầu tư và thiếu phối hợp chính sách. Vì vậy, thông điệp cốt lõi cho năm 2026 là giữ ổn định vĩ mô để mở dư địa phát triển, và mở dư địa phải đi cùng kỷ luật chính sách. Trong cấu trúc đó, kiểm toán công không chỉ là công cụ kiểm tra sau cùng, mà là thiết chế “gác cổng” kỷ luật tài khóa, bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và củng cố niềm tin - nền tảng quan trọng nhất của ổn định trong kỷ nguyên bất định. Tài liệu tham khảo 1. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2024). Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và giai đoạn 2026-2030. Hà Nội; 2. Chính phủ (2025). Báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2025, kế hoạch ngân sách nhà nước năm 2026. Hà Nội; 3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2025). Báo cáo điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ổn định hệ thống ngân hàng năm 2025; định hướng năm 2026. Hà Nội; 4. Kiểm toán nhà nước (2024). Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2023-2024 và kiến nghị đối với quản lý tài chính công, đầu tư công. Hà Nội; 5. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (2024). Vietnam: Article IV Consultation – Staff Report. Washington, D.C. Tác giả: TS. Đào Thị Bích Hòa, Trường Đại học Thành Đông ThS. Nguyễn Thị Hải Yến, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

Nhìn lại xuất khẩu của Việt Nam năm 2025, giải pháp cho năm 2026 và những năm tiếp theo đến 2030

Năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực cả về quy mô, cơ cấu hàng hóa và phát triển thị trường, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Song, trước những diễn biến khó lường về tình hình kinh tế, địa chính trị thế giới và tình hình biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ gia tăng, năm 2026 và đến 2030 cần những giải pháp đột phá để đảm bảo xuất khẩu tăng nhanh, bền vững. Bài viết này trình bày và phân tích khái quát về tình hình xuất khẩu năm 2025 và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho năm 2026 và cả giai đoạn đến 2030. Từ khóa: Xuất khẩu năm 2025; phát triển kinh tế - xã hội; triển vọng xuất khẩu năm 2026; giải pháp đến 2030. A Review of Vietnam’s Exports in 2025: Solutions for 2026 and the Outlook to 2030 In 2025, Vietnam's exports achieved positive results in terms of scale, commodity structure, and market development, making a significant contribution to the country’s socio-economic growth. However, in the face of unpredictable global economic and geopolitical developments - compounded by the intensification of climate change, natural disasters, and floods - the period for 2026 and the lead-up to 2030 requires breakthrough solutions to ensure rapid and sustainable export growth. This article presents a general analysis of the export situation in 2025 and proposes several strategic solutions to bolster exports for 2026 and the entire period through 2030. Keywords: 2025 exports; socio-economic development; 2026 export outlook; solutions to 2030. JEL classification: F13, F14, O24 https://doi.org/10.65771/ati-jas.01202605 Năm 2025, tình hình kinh tế, địa chính trị thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, tăng trưởng suy giảm, lạm phát gia tăng, các ngân hàng trung ương của nhiều nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt; xung đột quân sự Nga - Ukraina và một số quốc gia khác trên thế giới và trong khu vực ngày càng căng thẳng… Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ ngày càng gia tăng và khắc nghiệt, với một chuỗi thiên tai liên tiếp chỉ trong vòng một tháng, 4 trận bão lớn đổ bộ vào Việt Nam với vùng ảnh hưởng rộng và lượng mưa lớn, gây lũ lụt nghiêm trọng, sạt lở và gió mạnh, gây thiệt hại năng nề về người và kinh tế là 99.469 tỷ đồng… ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế Việt Nam, chưa kể hậu quả còn có thể kéo dài. Tất cả những điều trên đã gây ra cho hoạt động kinh tế - xã hội của Việt Nam nhiều khó khăn, thách thức; thị trường bị thu hẹp, các đơn hàng sụt giảm, nhất là các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, châu Âu. Tổng cầu giảm, ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt được những kết quả đáng khích lệ. Bài viết khái quát tình hình xuất khẩu của Việt Nam năm 2025, qua đó đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho năm 2026 - năm đầu tiên của nhiệm kỳ Đại hộị Đảng toàn quốc lần thứ XIV, nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong “kỷ nguyên vươn mình”. 1. Khái quát về tình hình xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 Năm 2025, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã phát triển mạnh, đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng với mức cao, phản ánh trực tiếp việc tăng quy mô xuất khẩu hàng hóa cả trên phương diện số lượng, giá trị và thị trường. Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa đã có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ xuất khẩu thô sang xuất khẩu hàng chế biến sâu, hàng công nghệ, công nghệ cao; thị trường xuất khẩu truyền thống được giữ vững và phát triển thị trường mới đa dạng và ổn định… thể hiện trên một số phương diện sau: 1.1. Kết quả tích cực Về quy mô hàng hóa xuất khẩu Năm 2025, tình hình kinh tế, địa chính trị thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường, tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ gia tăng, nhiều cơn bão dồn dập vào các tháng cuối năm, gây thiệt hại nặng nề cả về người và tài sản của nhân dân khắp cả nước (hơn 100 người chết và thiệt hại về kinh tế là 99.469 tỷ đồng). Song, xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt mức kỷ lục với 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm 2024; xuất siêu 20,3 tỷ USD. Trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ đạo với kim ngạch xuất khẩu đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; trong đó máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 78,5 tỷ USD, điện thoại và linh kiện đạt 44,5 tỷ USD, máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 43,6 tỷ USD; hàng dệt may đạt 30 tỷ USD, giày dép đạt hơn 18 tỷ USD… Thị trường xuất khẩu quan trọng nhất là Mỹ, chiếm khoảng 32% tổng kim ngạch xuất khẩu; nhóm hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng, lập kỷ lục cao nhất từ trước đến nay với hơn 70 tỷ USD, vượt kế hoạch Chính phủ giao (65 tỷ USD), tăng 12% so với năm 2024, riêng thủy sản đạt khoảng 11,3 tỷ USD, tăng hơn 12% so với năm trước, cà phê lập kỷ lục mới, đạt gần 6 tỷ USD, rau quả đạt 7 tỷ USD... Điều quan trọng là, sản phẩm nông, lâm thủy sản đã có sự đổi mới theo hướng tăng cường sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm xanh, sạch, thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu loại hàng này. Về cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 được cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học cao, tạo thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Cụ thể là: + Nhóm các mặt hàng công nghiệp, chế biến, hằng năm đều chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025 kim ngạch xuất khẩu nhóm này chiếm gần 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại và linh kiện, phụ tùng, phương tiện vận tải, hàng dệt may, giày dép là những mặt hàng có giá trị và tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất và có ưu thế từ các doanh nghiệp FDI. + Nhóm các mặt hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng và chiếm tỷ trọng khoảng gần 11% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng nhẹ so với năm 2024. Nhưng quan trọng là, sản phẩm nông, lâm, thủy sản đã có sự đổi mới theo hướng tăng cường sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm xanh, sạch, thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu loại hàng này, đồng thời có sự chuyển dịch trong cơ cấu thị trường xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm này, tạo điều kiện tăng quy mô xuất khẩu và nâng cao sức cạnh tranh. Nhìn một cách tổng quát, với sự nỗ lực của Việt Nam cùng với sự phục hồi của bên phía cầu, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì sự ổn định hợp lý; các nhóm, mặt hàng chính đều đạt được mức tăng trưởng tích cực; các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp chế biến vẫn duy trì tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu và phục hồi mạnh với mức tăng trưởng hơn 15%. Trong đó, các mặt hàng máy vi tính, điện tử và linh kiện vẫn đóng vai trò chủ lực. Quan trọng hơn, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có sự chú ý đáng kể trong việc giảm xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu các mặt hàng chế biến sâu, có hàm lượng công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu thị hiếu của thị trường quốc tế. Về thị trường xuất khẩu Năm 2025, nhìn chung có sự ổn định tương đối giữa các thị trường truyền thống. Tổng kim ngạch xuất khẩu đến 5 thị trường chính: Hoa kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn đạt cao. Trong đó: Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với tổng kim ngạch xuất khẩu là 153,2 tỷ USD, đây là con số kỷ lục, tăng mạnh so với các năm trước do nhu cầu lớn từ thị trường này về các mặt hàng công nghệ, công nghệ cao, dệt may, giày dép, gỗ… Tiếp theo là thị trường Trung Quốc, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 70 tỷ USD, tăng hơn 8 tỷ USD so với năm 2024. Đứng thứ ba là khối các quốc gia EU, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 50 tỷ USD. Thứ tư là khối các nước ASEAN với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 37 tỷ USD. Cuối cùng là Nhật Bản, với tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn này đạt hơn 25 tỷ USD. Hằng năm tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang quốc gia này tuy không cao nhưng khá ổn định. Về chủ thể tham gia xuất khẩu Số lượng doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng được mở rộng và hoạt động ngày càng hiệu quả. Theo Cục Thống kê - Bộ Tài chính, các doanh nghiệp trong nước năm 2025 đạt kim ngạch xuất khẩu 107,95 tỷ USD, giảm 6,1% so với năm 2024 và chiếm 22,7% tổng kim ngạch. Các doanh nghiệp FDI dẫn đầu và đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu hằng năm nói chung và năm 2025 nói riêng. Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 của các doanh nghiệp trong khu vực này (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1% và chiếm 77,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và cũng chiếm tỷ trọng cao ở các thị trường lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ và EU, trong đó chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp chế biến như: hàng điện tử, máy móc, thiết bị, dệt may, giày dép… Điều này thể hiện các doanh nghiệp FDI đã tận dụng tốt hơn những ưu thế của hội nhập quốc tế và đổi mới công nghệ, góp phần chủ yếu trong việc tạo ra xuất siêu cho Việt Nam. 1.2. Một số hạn chế Bên cạnh những kết quả đạt được, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2025 vẫn còn những hạn chế nhất định như: Thứ nhất, quy mô hàng hóa xuất khẩu còn nhỏ lẻ, tăng trưởng tuy đạt tốc độ khá cao nhưng về lâu dài thì chưa thật sự bền vững. Nguồn hàng xuất khẩu thiếu tính liên kết, bền vững và dễ bị tác động tiêu cực của thị trường nước ngoài khi có biến động lớn. Khả năng cạnh tranh còn hạn chế ở cả ba cấp độ: cấp độ sản phẩm, cấp độ doanh nghiệp và cấp độ quốc gia. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là hàng gia công là chính. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc lớn vào các doanh nghiệp FDI (năm 2025 chiếm 77,3%)… Khu vực nhà nước tăng chậm (năm 2025 chiểm 22,7%, giảm hơn 6%), giá trị gia tăng còn thấp; chủ yếu là gia công, lắp ráp, phụ thuộc vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu và dễ gặp rủi ro, bị động nếu các tập đoàn FDI có sự chuyển dịch chuỗi cung ứng sang các quốc gia khác. Một số nhóm, mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng nông sản, tăng trưởng xuất khẩu vẫn chủ yếu tăng về số lượng và một số thời điểm tăng về giá do thị trường khan hiếm. Hàng xuất khẩu thô, hàm lượng công nghệ thấp vẫn chưa tăng được tăng cao; Thứ hai, cơ cấu xuất khẩu chậm được cải thiện, tỷ trọng hàng công nghệ cao, hàng nông sản chế biến sâu thương hiệu Việt Nam còn thấp; chưa có các ngành xuất khẩu dẫn dắt bằng công nghệ và sáng tạo; Thứ ba, xuất khẩu còn phụ thuộc lớn vào một số thị trường như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, dễ bị tác động bởi chính sách bảo hộ, điều tra phòng vệ thương mại, biến động chính trị và sự phục hồi chậm của các nền kinh tế lớn, nhất là Hoa Kỳ; Thứ tư, rào cản kỹ thuật và phòng vệ thương mại, gia tăng các vụ chống bán phá giá, chống trợ cấp; yêu cầu khắt khe trong truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, phát thải carbon, trong khi doanh nghiệp của Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó đáp ứng. Còn hiện tượng một số mặt hàng xuất khẩu sang một số thị trường như Hoa kỳ, Australia và New Zealand vi phạm tiêu chuẩn, quy định an toàn sinh học và an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng đến uy tín của hàng hóa Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng trên các thị trường này. Đặc biệt là từ ngày 01/01/2026, vấn đề về thuế đối ứng và Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA) của Mỹ có hiệu lực, cấm nhập khẩu một số loài hải sản của Việt Nam. Đây là thách thức lớn, bởi Mỹ là thị trường chủ lực về thủy sản Việt Nam; Thứ năm, chi phí logistics còn cao hơn một số quốc gia; năng lực hạ tầng còn bất cập, cảng biển, kho lạnh, logistics nông sản chưa đồng bộ; kết nối giao thông đường sắt, đường thủy, đường bộ và đường hàng không còn yếu kém, làm giảm nhiều sức cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu; Thứ sáu, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI chưa chặt chẽ, cùng với đó, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chưa phát triển, tỷ lệ nội địa hóa thấp, gây không ít cản trở cho việc tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Với mục tiêu phát triển xuất khẩu bền vững trên cơ sở cơ cấu cân đối, hài hòa, phát huy lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh, phát triển thương hiệu hàng hóa Việt Nam; nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, là động lực phát triển kinh tế nhanh và bền vững, cần tìm ra các giải pháp đột phá, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, khả thi trong bối cảnh kinh tế, chính trị thế giới hiện nay và trong những năm tới. 2. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho năm 2026 và những năm tiếp theo đến 2030 2.1. Quan điểm xuất khẩu đến 2030 Trên cơ sở “mục tiêu phát triển xuất nhập khẩu bền vững với cơ cấu cân đối, hài hòa, phát huy lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh, phát triển thương hiệu hàng hóa Việt Nam, nâng vao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, là động lực của tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, Bộ Công Thương đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành Quyết định số 493/QĐ-TTg ngày 19/4/2022, phê duyệt Chiến lược xuất khẩu hàng hóa đến năm 2030, trên 3 quan điểm cơ bản xuyên suốt”. Thứ nhất, phát triển xuất khẩu bền vững trên cơ sở hài hòa về cơ cấu hàng hóa, cơ cấu thị trường và cán cân thương mại với từng thị trường và khu vực thị trường; hài hòa giữa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn; hài hòa cơ hội tham gia và hưởng thụ thành quả tăng trưởng xuất khẩu; gắn với thương mại xanh và thương mại công bằng, với bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thứ hai, phát triển xuất khẩu hàng hóa gắn với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, khoa học - công nghệ; chuyển đổi số; phát triển kinh tế số; phát triển nền sản xuất xanh, sạch, bền vững, tuần hoàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản phẩm xuất khẩu; xây dựng thương hiệu hàng hóa Việt Nam trong xuất khẩu. Thứ ba, phát triển xuất khẩu gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành và địa phương nhằm phát huy hiệu quả cạnh tranh, khai thác hiệu quả, cơ hội và hạn chế tác động của các thách thức trong thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, hằng năm, ngay từ những tháng của quý 4 năm trước, các bộ, ngành và địa phường cần lập kế hoạch tổng thể phát triển ngành kinh tế trọng điểm, có lợi thế, đảm bảo sự cân đối, hài hòa trong sản xuất nhằm tránh tình trạng sản xuất dư thừa. Mặt khác, cần phát huy thế mạnh của sản phẩm của từng vùng để đảm bảo nâng cao tính cạnh tranh. 2.2. Giải pháp Để phát triển xuất khẩu cho năm 2026 và những năm tiếp theo đến 2030, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó, tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau: Thứ nhất, rà soát để bổ sung, chỉnh sửa cơ chế, chính sách kinh tế, chính sách xuất khẩu theo hướng ổn định, dài hạn. Việc rà soát cơ chế, chính sách kinh tế, thương mại, xuất khẩu phải được thực hiện một cách thường xuyên để đảm bảo phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cũng như bối cảnh quốc tế. Duy trì sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô thông qua việc hoàn thiện chính sách đầu tư, tài chính, cân đối ngân sách, ổn định tiền tệ, quản lý, điều hành giá, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; đơn giản hóa thủ tục hành chính, thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục xuất, nhập khẩu; chủ động phòng vệ thương mại… Theo đó, cần rà soát lại hệ thống các văn bản pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm phát hiện những hạn chế, không còn phù hợp với thực tế cũng như không phù hợp với quy định quốc tế và các cam kết trong các Hiệp định thương mại song phương và đa phương. Tháo gỡ các rào cản về hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế, tài chính đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Tăng cường quản lý nhà nước trong hoạt động xuất khẩu nhằm tạo điều kiện cho thương mại phát triển, chống gian lận thương mại và hướng tới thương mại công bằng. Hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng và đạt các chứng chỉ về tăng trưởng xanh, tăng trưởng bền vững, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn của các thị trường mục tiêu. Đảm bảo công bằng trong hoạt động xuất khẩu. Trên cơ sở đó, bổ sung, chỉnh sửa các chính sách cho phù hợp. Chủ động tham gia xây dựng các quy tắc và luật lệ chung của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tích cực bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, của doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam trong các tranh chấp kinh tế, thương mại và đầu tư quốc tế. Xây dựng thể chế kinh tế thị trường Việt Nam hiện đại, đảm bảo tính hệ thống, công khai, minh bạch và ổn định; đảm bảo thuận lợi cho xuất khẩu bền vững; thúc đẩy chế biến sâu, có hàm lượng công nghệ cao. Thứ hai, cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ, chuyển mạnh từ tăng sản lượng sang tăng giá trị; phát triển các ngành xuất khẩu giá trị gia tăng cao như các ngành điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác, thiết bị công nghiệp, công nghiệp sinh học, dược phẩm, nông nghiệp chế biến sâu, thực phẩm chức năng; giảm xuất khẩu sản phẩm thô, hạn chế xuất khẩu khoáng sản, nông sản sơ chế; gắn xuất khẩu với chuỗi chế biến - thương hiệu - logistics; tập trung trọng tâm vào xuất khẩu công nghệ, công nghệ cao, trí tuệ và thương hiệu Việt Nam; xây dựng thương hiệu quốc gia và thương hiệu doanh nghiệp; hình thành doanh nghiệp xuất khẩu đầu tàu, dẫn dắt của Việt Nam, đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân lớn vươn ra quốc tế; tạo nguồn cung đầy đủ, bền vững cho xuất khẩu; khuyến khích các dự án, các nghiên cứu về vật liệu mới, sản xuất và xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa thân thiện với môi trường, sản phẩm có hàm lượng khoa học, công nghệ cao. Thứ ba, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong hoạt động xuất khẩu Đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và ngày càng nâng cao chất lượng; cơ cấu lại ngành và doanh nghiệp trên cơ sở sử dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, nhất là Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có khả năng kết nối cao; chuyển nền kinh tế từ khai thác và sử dụng tài nguyên dưới dạng thô sang chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa; xây dựng các trung tâm logicstics vùng, quốc gia để tham gia mạng lưới logicstic khu vực và quốc tế; phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng ngành hàng, từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng địa phương để có phương án nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển mạnh mẽ khu vực tư nhân để trở thành động lực quan trọng và thực sự của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết số 68-NQ/ TW ngày 04/5/2025. Phát triển mạnh các liên kết kinh tế, tăng cường nguồn lực đầu tư cho phát triển sản xuất hàng hóa theo chiều sâu. Đầu tư phát triển thương hiệu quốc gia và đảm bảo sự hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trên thị trường quốc tế; khuyến khích hình thành các vùng sản xuất hàng xuất khẩu chủ lực tập trung, tạo nguồn hàng xuất khẩu quy mô lớn và có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh trạnh của sản phẩm, dịch vụ và của các doanh nghiệp xuất khẩu. Theo đó, doanh nghiệp cần phải đổi mới chiến lược và phương thức sản xuất, kinh doanh; tăng cường mối quan hệ và tích cực chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, tham gia vào mạng lưới sản xuất, phân phối khu vực và quốc tế; tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và kinh doanh trên nền tảng số của doanh nghiệp. Phát triển đa dạng hóa các phương thức xuất khẩu, kết hợp phương thức truyền thống với phương thức xuất khẩu hiện đại. Đẩy mạnh áp dụng thương mại điện tử xuyên biên giới và tham gia các sàn thương mại điện tử quốc tế. Tiếp tục đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm hàng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học cao. Tổ chức quy trình sản xuất hiện đại, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến nhằm tiết kiệm chi phí đầu vào để giảm giá thành sản phẩm hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Đổi mới quy cách, mẫu mã sản phẩm, mẫu mã bao bì nhằm phù hợp thị hiếu người tiêu dùng từng khu vực thị trường. Nâng cao năng lực quản trị của đội ngũ lãnh đạo các cấp thông qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý xuất, nhập khẩu. Có chiến lược đào tạo hợp lý; kết hợp với các cơ sở giáo dục đào tạo, các viện nghiên cứu chuyên ngành để xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức công nghệ thông tin nhằm bắt kịp với thời đại công nghệ số. Xây dựng quy trình quản trị phù hợp, tăng cường thực hiện phân cấp, phân quyền và chế độ thưởng, phạt nghiêm minh trong doanh nghiệp… Trên cơ sở đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ hàng hóa xuất khẩu. Thứ năm, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu: đẩy mạnh đàm phán song phương, đa phương với các thị trường, khu vực thị trường trọng điểm, nhiều tiềm năng; tăng cường các hoạt động xúc tiến xuất khẩu theo hướng chú trọng mở rộng thị trường sang các nước đang phát triển, các thị trường tiềm năng và thị trường mới nổi Trung Đông - châu Phi, Nam Á, Mỹ Latin… Phát triển xuất khẩu theo chiều sâu tới những thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, các nước ASEAN… Thứ sáu, khai thác, tận dụng hiệu quả các lợi thế do các FTA thế hệ mới đem lại. Việc áp thuế suất thấp hoặc bằng 0% đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong các FTA Việt Nam đã ký kết và thực thi là động lực thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ lưỡng và tận dụng những ưu đãi từ các FTA thế hệ mới đem lại như: CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP; phát triển thị trường ngách, thị trường cao cấp… để thâm nhập thị trường, tăng trưởng xuất khẩu đạt hiệu quả cao và bền vững. Thứ bảy, thúc đẩy phát triển kinh tế số, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cho hoạt động xuất khẩu nói riêng một cách bền vững. Theo đó, cần đẩy mạnh 3 đột phá chiến lược số, bao gồm thể chế số, hạ tầng số và nguồn lực số. Trên cơ sở đó tăng tốc độ phát triển lực lượng sản xuất mới, chất lượng cao, chuyên nghiệp; tăng cường đầu tư phát triển khoa học công nghệ, xây dựng các trung tâm công nghệ cao, thu hút đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia nhằm từng bước rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các nước trên thế giới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận và tăng tính thanh khoản các nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu phát triển. Tăng cường đổi mới công nghệ và sản phẩm mang tính sáng tạo. Thứ tám, tăng cường hoạt động thông tin, truyền thông trong xuất khẩu: đẩy mạnh thông tin truyền thông về xuất khẩu, về các thị trường quốc tế, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Bộ Công thương cần chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị phát hành các ấn phẩm thông tin về xuất khẩu. Nhà nước cần có sự đầu tư thỏa đáng để có cơ sở dữ liệu, phát triển mạnh cơ sở dữ liệu điện tử dùng chung và liên thông quốc gia để hỗ trợ xuất khẩu. Kết luận Phát huy kết quả tích cực trong xuất khẩu năm 2025, nhận thức đầy đủ những khó khăn, thách thức trong thời gian tới của kinh tế thế giới và trong nước, Việt Nam với sự nỗ lực, phát huy tính chủ động sáng tạo trong lãnh đạo chỉ đạo của các cấp Đảng, Chính quyền từ trung ương đến địa phương và sự đồng thuận, khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thách thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, xuất khẩu của Việt Nam sẽ có sự phát triển kỷ lục, hoàn thành vượt mức mục tiêu “Chiến lược xuất khẩu hàng hóa đến năm 2030”. Tài liệu tham khảo: 1. Bộ Công Thương, “Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2021-2030”; 2. Bộ Tài chính - Cục Thống kê, “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025; 3.Moit.vov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/chien-luoc-xuat-nhap-khau-hang-hoa-cua-vietnam-den-2030.html. Ngày 29 tháng 4 năm 2022; 4.Trungtamwto.vn/chuyen-de/31526-10-su-kien-noi-bat-cua-kinh-te-viet-nam-nam-2025- ngày đăng 31/12/2025; 5.Xaydungchinhsach.chinhphu.vn/xuat-nhap-khau-2025-ky-luc-kim-ngach-thac-thc-chat-luongtang-truong-119251229082019746.html. Cập nhật 02/01/2026. Tác giả: GS.TS Ngô Thế Chi - Học viện Tài chính (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)  

Giữ kỷ luật tài chính công khi tăng đầu tư: "đường ray" cho tăng trưởng cao 2026-2030

Bước vào giai đoạn 2026-2030, mục tiêu tăng trưởng cao, hướng tới “2 chữ số” đòi hỏi Nhà nước phải phát huy mạnh vai trò kiến tạo phát triển, trong đó chi đầu tư phát triển (đặc biệt đầu tư công) là một công cụ quan trọng để tạo “cú hích” về hạ tầng, năng lực sản xuất và năng suất dài hạn. Nhưng chính ở đây xuất hiện nghịch lý kinh điển của quản trị tài chính công càng mở rộng đầu tư, càng phải siết kỷ luật - kỷ cương ngân sách; bởi nếu không, tăng trưởng cao có thể bị “mua” bằng bội chi, nợ và lãng phí, làm suy yếu ổn định vĩ mô và dư địa chính sách cho các năm sau. Nền tảng kinh tế năm 2025 tạo thuận lợi cho tư duy “tăng tốc có kiểm soát”: GDP 2025 tăng 8,02%, cơ cấu đóng góp nghiêng về công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên, bước sang 2026, bức tranh ngân sách cho thấy chủ trương nới dư địa tài khóa để ưu tiên đầu tư phát triển dự toán tổng thu ngân sách nhà nước 2026 khoảng 2.529.467 tỷ đồng, tổng chi khoảng 3.159.106 tỷ đồng, bội chi khoảng 605.800 tỷ đồng (tương đương 4,2% GDP). Đó là lựa chọn chính sách có tính chiến lược; song đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao về kỷ luật tài khóa và hiệu quả chi tiêu công dưới “lăng kính kiểm toán”. Kỷ luật tài khóa không phải “siết chi”, mà là kỷ luật lựa chọn và kỷ luật hiệu quả Trong logic chính sách hiện đại, kỷ luật tài chính công không đồng nghĩa “thắt lưng buộc bụng” một cách cơ học. Bản chất của kỷ luật là thiết lập ràng buộc thể chế để mỗi quyết định chi tiêu - nhất là chi đầu tư - đều trả lời được ba câu hỏi: (i) ưu tiên gì (tính chiến lược), (ii) làm bằng cách nào (tính hiệu lực) và (iii) được bao nhiêu tăng trưởng/ phúc lợi (tính hiệu quả). Nếu chỉ nhìn kỷ luật như “giảm chi”, Nhà nước dễ rơi vào thế bị động cắt chỗ này phình chỗ khác, dồn áp lực vào đầu tư nhưng lại buông lỏng kỷ cương trong lựa chọn dự án, quản trị hợp đồng, điều chỉnh tổng mức, hoặc kỷ luật giải ngân. Ngược lại, nếu coi kỷ luật là “đường ray”, thì mở rộng đầu tư trở thành quá trình đầu tư có điều kiện chỉ dự án đáp ứng tiêu chuẩn, có thiết kế kiểm soát rủi ro, có cơ chế đo lường đầu ra và trách nhiệm giải trình mới được ưu tiên bố trí vốn. Trong bối cảnh bội chi 2026 được Quốc hội quyết nghị ở mức 4,2% GDP, kỷ luật tài khóa càng mang ý nghĩa “neo kỳ vọng”: neo kỳ vọng thị trường về ổn định vĩ mô; neo kỳ vọng xã hội về công bằng và minh bạch và neo kỳ vọng của khu vực tư nhân về một môi trường đầu tư khả đoán, chi phí vốn hợp lý. “Điểm nghẽn” thực chất: lãng phí và hiệu quả đầu tư công  Khi quy mô vốn đầu tư phát triển tăng nhanh, rủi ro lớn nhất không nằm ở “thiếu tiền” mà nằm ở thiếu năng lực hấp thụ vốn và thiếu kỷ luật hiệu quả. Lãng phí trong đầu tư công thường không biểu hiện ngay thành sai phạm hình sự; nó xuất hiện qua những “cơ chế mềm” nhưng chi phí rất thật dự án dàn trải, điều chỉnh thiết kế nhiều lần, giải phóng mặt bằng chậm, hợp đồng thiếu chặt chẽ, chậm tiến độ kéo theo tăng chi phí và cuối cùng là công trình hoàn thành nhưng hiệu quả khai thác thấp. Về phương diện kinh tế chính trị, lãng phí là “thuế vô hình” đánh vào toàn xã hội: làm hao hụt nguồn lực tích lũy, tăng nghĩa vụ tài khóa tương lai và làm giảm niềm tin vào năng lực quản trị công. Do đó, chống lãng phí không phải khẩu hiệu đạo đức, mà là đòi hỏi của kỷ luật tài khóa trong chiến lược tăng trưởng cao. Ở đây, yêu cầu then chốt là chuyển trọng tâm từ “giải ngân cho hết” sang “giải ngân đúng” - đúng dự án, đúng tổng mức, đúng tiến độ và đúng đầu ra. Và điều này không thể đạt được nếu chỉ dựa vào cơ chế hành chính; nó cần một hệ thống kiểm tra - giám sát độc lập, trong đó kiểm toán giữ vai trò trung tâm. Vai trò kiểm toán: từ “hậu kiểm” sang “phòng ngừa - cảnh báo - nâng hiệu quả” Trong giai đoạn 2026-2030, khi đầu tư phát triển mở rộng, kiểm toán cần được nhìn như một cấu phần của quản trị công hiện đại, không chỉ xác nhận tuân thủ và quyết toán, mà còn định hướng hành vi của các chủ thể sử dụng ngân sách theo chuẩn mực hiệu quả và trách nhiệm giải trình. Ba dịch chuyển quan trọng để hoạt động kiểm toán “đinh” hơn về nghề nghiệp trong bối cảnh mới: Thứ nhất, ưu tiên kiểm toán hoạt động (performance audit) thay cho cách tiếp cận thuần túy tuân thủ. Tuân thủ là điều kiện cần; nhưng với đầu tư công quy mô lớn, điều xã hội quan tâm nhất là “có tạo ra năng lực mới không?”, “có giảm chi phí logistics/điện năng/đô thị không?”, “có kích hoạt đầu tư tư nhân không?”. Kiểm toán hoạt động giúp trả lời những câu hỏi đó bằng tiêu chí và bằng chứng. Thứ hai, chuyển mạnh sang kiểm toán dựa trên rủi ro. Nguồn lực kiểm toán là hữu hạn, trong khi danh mục đầu tư rất lớn. Vì vậy, lựa chọn trọng tâm theo rủi ro (quy mô vốn, mức độ điều chỉnh tổng mức, dự án kéo dài, lĩnh vực nhạy cảm đấu thầu - giải phóng mặt bằng, dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) có nghĩa vụ ngân sách tiềm ẩn…) là cách tạo tác động chính sách lớn nhất. Thứ ba, tăng cường “điểm chạm sớm” để phòng ngừa lãng phí ngay từ đầu. Một đồng lãng phí bị chặn ở khâu chuẩn bị dự án giá trị hơn nhiều so với một đồng “phát hiện sau” khi công trình đã hoàn thành. Do đó, kiểm toán chuyên đề về lập - thẩm định tổng mức, suất vốn, thiết kế dự toán, lựa chọn nhà thầu, điều chỉnh hợp đồng… cần được coi là giải pháp phòng ngừa. Kỷ luật tài chính công trong bối cảnh bội chi 4,2% GDP: cần “neo” bằng cơ chế trung hạn  Với mức bội chi ngân sách nhà nước 2026 khoảng 605.800 tỷ đồng (4,2% GDP), nguyên tắc quản trị cần nhấn mạnh là bội chi chỉ có ý nghĩa khi được “đổi” lấy năng lực tăng trưởng dài hạn. Vì vậy, hai yêu cầu chính sách cần được đặt thành “kỷ luật vận hành”: (i) Kỷ luật khung tài khóa trung hạn: lộ trình bội chi - nợ - nghĩa vụ trả nợ phải gắn với kịch bản lãi suất, tăng trưởng và rủi ro bên ngoài. (ii) Kỷ luật ưu tiên đầu tư: vốn ngân sách nhà nước tập trung cho các dự án có tác động lan tỏa và “kéo” được vốn tư nhân; hạn chế tối đa dàn trải và “chạy danh mục”. Kỷ luật trung hạn còn giúp ngăn “thiên kiến nhiệm kỳ”: thích khởi công hơn hoàn thành; thích công trình mới hơn vận hành hiệu quả; thích chỉ tiêu giải ngân hơn chỉ tiêu đầu ra. Đây chính là điểm giao thoa giữa quản trị tài khóa và kiểm toán: kiểm toán cần tạo áp lực thể chế để hành vi chi tiêu công hướng vào hiệu quả dài hạn. Tăng trưởng cao chỉ bền khi kỷ luật tài chính công trở thành “chuẩn vận hành”. Giai đoạn 2026 2030 là giai đoạn Việt Nam cần bứt phá. Mở rộng chi đầu tư phát triển là cần thiết; nhưng mở rộng chỉ tạo ra tăng trưởng thực chất khi đi kèm kỷ luật - kỷ cương tài chính công, đặc biệt là kỷ luật lựa chọn dự án, kỷ luật chi phí - tiến độ và kỷ luật đầu ra. Trong cấu trúc đó, kiểm toán không đứng ngoài quá trình phát triển; kiểm toán là một “thiết chế bảo đảm” để bội chi và vốn đầu tư công được sử dụng như đòn bẩy nâng năng suất, chứ không trở thành gánh nặng nghĩa vụ tài khóa cho tương lai. Với chuẩn 3E và cách tiếp cận dựa trên rủi ro, kiểm toán có thể làm cho bài toán “tăng đầu tư” trở thành bài toán tăng hiệu quả, qua đó giữ vững ổn định vĩ mô và tạo nền tảng chắc cho mục tiêu tăng trưởng cao của cả nhiệm kỳ. PGS.TS Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh kế (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán – số tháng 01/2026)

Sửa thuế thu nhập cá nhân - Trọng tâm và kỳ vọng

Việc sửa đổi Luật Thuế thu nhập cá nhân (ban hành từ năm 2007, có hiệu lực từ năm 2009) sau hơn 15 năm áp dụng là cần thiết để bắt kịp biến động thực tế và được toàn  xã hội mong đợi, với kỳ vọng không chỉ góp phần nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, mà còn hiện thức hóa chủ trương khoan sức dân, tạo động lực mới cho phong trào thi đua làm giàu, kích thích cả sản xuất và tiêu dùng, cả cung và cầu, góp phần cán đích tăng trưởng GDP 2 con số trong kỷ nguyên mới ở nước ta. Theo Bộ Tài chính, dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) dự kiến sửa đổi, bổ sung 30/35 điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành, theo đó: Tập trung sửa đổi, điều chỉnh và hoàn thiện các nội dung liên quan đến thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân và cách tính thuế đối với từng loại thu nhập chịu thuế; các khoản được miễn thuế thu nhập cá nhân; cách tính thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh; mức doanh thu chịu thuế đối với thu nhập của hộ, cá nhân kinh doanh; mức thuế suất đối với một số khoản thu nhập từ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ phần mềm; sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số…; mức giảm trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân; giảm số bậc thuế lũy tiến từng phần áp dụng đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương tiền công; kỳ tính thuế, khấu trừ thuế, thời điểm xác định thunhập chịu thuế; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trả thu nhập và trách nhiệm của người nộp thuế. Đồng thời, bổ sung thêm quy định về nhóm thu nhập khác thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân; về miễn thuế, giảm thuế thu nhập cá nhân và về các khoản giảm trừ đặc thù khác. Ngoài ra, bổ sung thẩm quyền cho Chính phủ và Bộ Tài chính về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh, ngưỡng doanh thu kinh doanh không phải nộp thuế thu nhập cá nhân; về phạm vi xác định các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo được giảm trừ, các khoản giảm trừ đặc thù khác; về mức thu nhập thấp để xác định người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh và về mức tạm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập vãng lai của cá nhân. Chính sách thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản sẽ được chỉnh lý theo hướng sát với thực tế, minh bạch, công bằng hơn, đảm bảo đúng bản chất thu trên chênh lệch như mục tiêu ban đầu, ổn định thị trường và phù hợp thông lệ quốc tế. Cách tính thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng chứng khoán với thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng, thu theo từng lần giao dịch nhằm đơn giản hóa thủ tục và thuận tiện cho nhà đầu tư cá nhân, song không phù hợp với nhà đầu tư dài hạn hoặc có thu nhập biến động, đặc biệt khi phát sinh lỗ, nhưng không được hoàn thuế nếu không quyết toán. Theo đó, phương án cho phép cá nhân lựa chọn quyết toán vào cuối năm nhằm phản ánh đúng thu nhập thực tế, đảm bảo tính công bằng cũng được dự kiến. Trường hợp chia cổ tức bằng cổ phiếu, thuế thu nhập cá nhân không phát sinh tại thời điểm chia, mà sẽ được tính thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng khi cá nhân chuyển nhượng số cổ phiếu đó. Đặc biệt, các phương án điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cũng được cân nhắc có lợi hơn cho người dân và đảm bảo sự công bằng cho người nộp thuế, đồng thời tránh ảnh hưởng đột ngột đến nguồn thu ngân sách. Các cá nhân làm nội dung số, mạng xã hội được khấu trừ chi phí hợp lý tối đa 4 triệu đồng/tháng trước khi tính thuế nhằm phản ánh đúng chi phí thực tế phát sinh. Một nội dung được dư luận quan tâm nhất là đề  xuất của Bộ Tài chính giảm số bậc trong biểu thuế  thu nhập cá nhân xuống còn 5 bậc thay vì 7 bậc như quy định hiện hành và mức thuế suất cao nhất vẫn là 35%. Cụ thể, theo dự thảo, Bộ Tài chính đưa ra 2 phương án sửa đổi biểu thuế này theo hướng giảm số bậc và nới rộng khoảng cách thu nhập. Bộ Tài chính đưa ra 2 phương án sửa đổi biểu thuế thu nhập cá nhân Đối với cả 2 phương án được Bộ Tài chính đề xuất, mức thuế tối thiểu 5% tương ứng với thu nhập tính thuế trong tháng là 10 triệu đồng (sau khi giảm trừ gia cảnh, các chi phí tính thuế khác). Mức thuế tối đa là 35%, với thu nhập tính thuế trên 80 triệu đồng (phương án 1) và 100 triệu đồng trở lên (phương án 2). Việc thu hẹp số bậc thuế sẽ giúp đơn giản hóa trong quản lý, thu thuế, tạo thuận lợi cho kê khai và hội nhập xu hướng cải cách thuế trên thế giới. Đối với phương án 1, các cá nhân hiện nộp thuế từ bậc 2 trở lên sẽ được giảm thuế so với hiện nay; còn nếu kết hợp việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh thì cá nhân đang có thu nhập ở bậc 1 cũng đều được giảm thuế. Đối với phương án 2, cơ bản mọi cá nhân có thu nhập tính thuế từ 50 triệu đồng/tháng trở xuống sẽ được giảm thuế tương đương phương án 1. Đối với cá nhân có thu nhập tính thuế trên 50 triệu đồng/ tháng thì mức độ giảm sẽ nhiều hơn phương án 1, vì vậy số thu ngân sách nhà nước sẽ giảm nhiều hơn phương án 1. Trước hết, dư luận hoan nghênh việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân theo các mức lũy tiến từng phần là phù hợp xu hướng chung trên thế giới và việc giảm số bậc lũy tiến giúp đơn giản hóa biểu thuế. Hơn nữa, cũng cần thấy rằng, mức thuế cao nhất của Việt Nam chưa phải là mức cao trên thế giới. Trong khi đó, năm 2024, Phần Lan tăng thuế suất cao nhất từ 57% lên 57,3%; Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc có mức mức thuế suất cao nhất 45% và Philippines, Indonesia có mức 35%. Riêng số bậc thuế dao động từ 5 đến 13 bậc ở châu Á, còn ở châu Âu, Bắc Mỹ và châu Úc, phần lớn các quốc gia áp dụng từ 5 đến 6 bậc thuế. Như vậy, việc thực hiện theo 2 phương án đều đáp ứng được mục tiêu giảm bậc, điều chỉnh thu nhập tính thuế ở từng bậc, tuy nhiên, ảnh hưởng của 2 phương án là khác nhau. Đồng thời, tại dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân, Bộ Tài chính đề xuất 2 phương án. Phương án 1: Điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh theo tốc độ tăng CPI theo quy định. Cụ thể: Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 13,3 triệu đồng/tháng; Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 5,3 triệu đồng/tháng. Phương án 2: Điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh theo tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng GDP bình quân đầu người. Cụ thể: Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng; Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng. Vấn đề mà dư luận hiện băn khoăn là tại sao chỉ có 2 phương án điều chỉnh được đề xuất gắn với mức trượt CPI (phương án 1) và mức gia tăng quy mô GDP/người (phương án 2), khiến mức ngưỡng chịu thuế và giảm trừ gia cảnh vẫn lạc hậu so với thực tiễn hiện nay. Năm 2020, mức lương cơ sở ở mức 1,49 triệu đồng/tháng. Hiện nay, mức lương này đã tăng lên 2,34 triệu đồng - tức tăng hơn 57% - nhưng mức giảm trừ gia cảnh vẫn giữ nguyên ở mức cũ. Điều này khiến không ít người lao động cảm thấy thiệt thòi. Đồng thời, khoảng cách giữa các bậc thuế rất gần tạo ra tâm lý lo ngại về việc mức thuế phải nộp tăng cao. Điều này cũng khiến cho việc tính thuế trở nên khó khăn, phức tạp hơn đối với cả người nộp thuế và cơ quan thuế. Chính những yếu tố đó dẫn đến tâm lý e ngại, thậm chí có xu hướng trốn thuế ở một bộ phận người nộp thuế, do cảm thấy không được khuyến khích phấn đấu thu nhập. Hiện nay, mức thu nhập chịu thuế sau giảm trừ là 11 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, một số địa phương như Hà Tĩnh, Ninh Thuận đã đề xuất nâng mức này lên 16 đến 18 triệu, thậm chí 20 đến 25 triệu đồng/tháng, với lý do phản ánh sát hơn chi phí sinh hoạt thực tế. Thực tế tại các đô thị lớn cho thấy, với mức thu nhập 11 triệu đồng/tháng - là ngưỡng chịu thuế hiện nay - nhiều người dân cho biết thu nhập này hầu như chỉ đủ chi trả tiền thuê nhà và học phí cho con. Việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh theo chỉ số CPI hay theo thu nhập bình quân đầu người đều có lý do riêng từ phía cơ quan chức năng. Tuy nhiên, câu hỏi khác đặt ra là tại sao không có phương án 3, trong đó có mức ngưỡng chịu thuế mới và mức chiết trừ gia cảnh được tính toán dựa vào cả 2 mức trượt CPI và mức gia tăng quy mô GDP/người. Nói cách khác, khi cơ quan chức năng dựa trên cơ sở dữ liệu về thu nhập và người nộp thuế, cũng như xác định đúng mức sống tối thiểu thực tế làm căn cứ giúp chính sách thuế được xây dựng chính xác và công bằng hơn, đưa thêm phương án 3 xử lý tất cả những vướng mắc mà người dân băn khoăn, cũng như bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước và người dân, xã hội; nỗ lực hướng tới mục tiêu cao nhất của công cuộc Đổi mới, phát triển và hội nhập trong Kỷ nguyên vươn mình là lấy hạnh phúc của người dân là thước đo thành tựu năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, lấy con người là động lực và mục tiêu cao nhất của toàn bộ quá trình phát triển đất nước… Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc tại cuộc họp chiều ngày 31/7 với các bộ, ngành, hiệp hội, doanh nghiệp chứng khoán, bất động sản, việc sửa đổi dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân lần này phải đảm bảo đúng quy định pháp luật hiện hành, công bằng, hiệu quả, phù hợp, minh bạch trong áp dụng thực tiễn… Dư luận quan tâm và kỳ vọng, dự thảo Luật cần cân nhắc và đánh giá kỹ lưỡng tác động khi thiết kế các nội dung liên quan mức thuế và lộ trình tính thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản và chứng khoán (cổ phiếu, cổ tức, cổ phiếu thưởng) và mức giảm trừ gia cảnh cho phù hợp với mức sống của người dân và từng địa phương, cũng như để phát triển thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán lành mạnh. Khi người dân “tâm phục khẩu phục”, đồng thuận và đoàn kết xã hội cao, thì mọi việc quốc kế dân sinh sẽ không còn là khó khăn, các giá trị xã hội chuẩn chung sẽ được củng cố và lợi ích quốc gia sẽ được bảo vệ vững chắc. Tác giả: TS Nguyễn Minh Phong, Nguyên Phó Trưởng ban Tuyên truyền lý luận, Báo Nhân dân (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, tháng 9/2025)

Nhìn lại xuất khẩu của Việt Nam năm 2025, giải pháp cho năm 2026 và những năm tiếp theo đến 2030

Năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực cả về quy mô, cơ cấu hàng hóa và phát triển thị trường, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Song, trước những diễn biến khó lường về tình hình kinh tế, địa chính trị thế giới và tình hình biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ gia tăng, năm 2026 và đến 2030 cần những giải pháp đột phá để đảm bảo xuất khẩu tăng nhanh, bền vững. Bài viết này trình bày và phân tích khái quát về tình hình xuất khẩu năm 2025 và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho năm 2026 và cả giai đoạn đến 2030. Từ khóa: Xuất khẩu năm 2025; phát triển kinh tế - xã hội; triển vọng xuất khẩu năm 2026; giải pháp đến 2030. A Review of Vietnam’s Exports in 2025: Solutions for 2026 and the Outlook to 2030 In 2025, Vietnam's exports achieved positive results in terms of scale, commodity structure, and market development, making a significant contribution to the country’s socio-economic growth. However, in the face of unpredictable global economic and geopolitical developments - compounded by the intensification of climate change, natural disasters, and floods - the period for 2026 and the lead-up to 2030 requires breakthrough solutions to ensure rapid and sustainable export growth. This article presents a general analysis of the export situation in 2025 and proposes several strategic solutions to bolster exports for 2026 and the entire period through 2030. Keywords: 2025 exports; socio-economic development; 2026 export outlook; solutions to 2030. JEL classification: F13, F14, O24 https://doi.org/10.65771/ati-jas.01202605 Năm 2025, tình hình kinh tế, địa chính trị thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, tăng trưởng suy giảm, lạm phát gia tăng, các ngân hàng trung ương của nhiều nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt; xung đột quân sự Nga - Ukraina và một số quốc gia khác trên thế giới và trong khu vực ngày càng căng thẳng… Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ ngày càng gia tăng và khắc nghiệt, với một chuỗi thiên tai liên tiếp chỉ trong vòng một tháng, 4 trận bão lớn đổ bộ vào Việt Nam với vùng ảnh hưởng rộng và lượng mưa lớn, gây lũ lụt nghiêm trọng, sạt lở và gió mạnh, gây thiệt hại năng nề về người và kinh tế là 99.469 tỷ đồng… ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế Việt Nam, chưa kể hậu quả còn có thể kéo dài. Tất cả những điều trên đã gây ra cho hoạt động kinh tế - xã hội của Việt Nam nhiều khó khăn, thách thức; thị trường bị thu hẹp, các đơn hàng sụt giảm, nhất là các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, châu Âu. Tổng cầu giảm, ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt được những kết quả đáng khích lệ. Bài viết khái quát tình hình xuất khẩu của Việt Nam năm 2025, qua đó đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho năm 2026 - năm đầu tiên của nhiệm kỳ Đại hộị Đảng toàn quốc lần thứ XIV, nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong “kỷ nguyên vươn mình”. 1. Khái quát về tình hình xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 Năm 2025, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã phát triển mạnh, đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng với mức cao, phản ánh trực tiếp việc tăng quy mô xuất khẩu hàng hóa cả trên phương diện số lượng, giá trị và thị trường. Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa đã có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ xuất khẩu thô sang xuất khẩu hàng chế biến sâu, hàng công nghệ, công nghệ cao; thị trường xuất khẩu truyền thống được giữ vững và phát triển thị trường mới đa dạng và ổn định… thể hiện trên một số phương diện sau: 1.1. Kết quả tích cực Về quy mô hàng hóa xuất khẩu Năm 2025, tình hình kinh tế, địa chính trị thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường, tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ gia tăng, nhiều cơn bão dồn dập vào các tháng cuối năm, gây thiệt hại nặng nề cả về người và tài sản của nhân dân khắp cả nước (hơn 100 người chết và thiệt hại về kinh tế là 99.469 tỷ đồng). Song, xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt mức kỷ lục với 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm 2024; xuất siêu 20,3 tỷ USD. Trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ đạo với kim ngạch xuất khẩu đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; trong đó máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 78,5 tỷ USD, điện thoại và linh kiện đạt 44,5 tỷ USD, máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 43,6 tỷ USD; hàng dệt may đạt 30 tỷ USD, giày dép đạt hơn 18 tỷ USD… Thị trường xuất khẩu quan trọng nhất là Mỹ, chiếm khoảng 32% tổng kim ngạch xuất khẩu; nhóm hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng, lập kỷ lục cao nhất từ trước đến nay với hơn 70 tỷ USD, vượt kế hoạch Chính phủ giao (65 tỷ USD), tăng 12% so với năm 2024, riêng thủy sản đạt khoảng 11,3 tỷ USD, tăng hơn 12% so với năm trước, cà phê lập kỷ lục mới, đạt gần 6 tỷ USD, rau quả đạt 7 tỷ USD... Điều quan trọng là, sản phẩm nông, lâm thủy sản đã có sự đổi mới theo hướng tăng cường sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm xanh, sạch, thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu loại hàng này. Về cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 được cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học cao, tạo thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Cụ thể là: + Nhóm các mặt hàng công nghiệp, chế biến, hằng năm đều chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025 kim ngạch xuất khẩu nhóm này chiếm gần 88,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại và linh kiện, phụ tùng, phương tiện vận tải, hàng dệt may, giày dép là những mặt hàng có giá trị và tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất và có ưu thế từ các doanh nghiệp FDI. + Nhóm các mặt hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng và chiếm tỷ trọng khoảng gần 11% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng nhẹ so với năm 2024. Nhưng quan trọng là, sản phẩm nông, lâm, thủy sản đã có sự đổi mới theo hướng tăng cường sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm xanh, sạch, thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu loại hàng này, đồng thời có sự chuyển dịch trong cơ cấu thị trường xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm này, tạo điều kiện tăng quy mô xuất khẩu và nâng cao sức cạnh tranh. Nhìn một cách tổng quát, với sự nỗ lực của Việt Nam cùng với sự phục hồi của bên phía cầu, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì sự ổn định hợp lý; các nhóm, mặt hàng chính đều đạt được mức tăng trưởng tích cực; các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp chế biến vẫn duy trì tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu và phục hồi mạnh với mức tăng trưởng hơn 15%. Trong đó, các mặt hàng máy vi tính, điện tử và linh kiện vẫn đóng vai trò chủ lực. Quan trọng hơn, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có sự chú ý đáng kể trong việc giảm xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu các mặt hàng chế biến sâu, có hàm lượng công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu thị hiếu của thị trường quốc tế. Về thị trường xuất khẩu Năm 2025, nhìn chung có sự ổn định tương đối giữa các thị trường truyền thống. Tổng kim ngạch xuất khẩu đến 5 thị trường chính: Hoa kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn đạt cao. Trong đó: Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với tổng kim ngạch xuất khẩu là 153,2 tỷ USD, đây là con số kỷ lục, tăng mạnh so với các năm trước do nhu cầu lớn từ thị trường này về các mặt hàng công nghệ, công nghệ cao, dệt may, giày dép, gỗ… Tiếp theo là thị trường Trung Quốc, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 70 tỷ USD, tăng hơn 8 tỷ USD so với năm 2024. Đứng thứ ba là khối các quốc gia EU, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 50 tỷ USD. Thứ tư là khối các nước ASEAN với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 37 tỷ USD. Cuối cùng là Nhật Bản, với tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn này đạt hơn 25 tỷ USD. Hằng năm tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang quốc gia này tuy không cao nhưng khá ổn định. Về chủ thể tham gia xuất khẩu Số lượng doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng được mở rộng và hoạt động ngày càng hiệu quả. Theo Cục Thống kê - Bộ Tài chính, các doanh nghiệp trong nước năm 2025 đạt kim ngạch xuất khẩu 107,95 tỷ USD, giảm 6,1% so với năm 2024 và chiếm 22,7% tổng kim ngạch. Các doanh nghiệp FDI dẫn đầu và đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu hằng năm nói chung và năm 2025 nói riêng. Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 của các doanh nghiệp trong khu vực này (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1% và chiếm 77,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và cũng chiếm tỷ trọng cao ở các thị trường lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ và EU, trong đó chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp chế biến như: hàng điện tử, máy móc, thiết bị, dệt may, giày dép… Điều này thể hiện các doanh nghiệp FDI đã tận dụng tốt hơn những ưu thế của hội nhập quốc tế và đổi mới công nghệ, góp phần chủ yếu trong việc tạo ra xuất siêu cho Việt Nam. 1.2. Một số hạn chế Bên cạnh những kết quả đạt được, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2025 vẫn còn những hạn chế nhất định như: Thứ nhất, quy mô hàng hóa xuất khẩu còn nhỏ lẻ, tăng trưởng tuy đạt tốc độ khá cao nhưng về lâu dài thì chưa thật sự bền vững. Nguồn hàng xuất khẩu thiếu tính liên kết, bền vững và dễ bị tác động tiêu cực của thị trường nước ngoài khi có biến động lớn. Khả năng cạnh tranh còn hạn chế ở cả ba cấp độ: cấp độ sản phẩm, cấp độ doanh nghiệp và cấp độ quốc gia. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là hàng gia công là chính. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc lớn vào các doanh nghiệp FDI (năm 2025 chiếm 77,3%)… Khu vực nhà nước tăng chậm (năm 2025 chiểm 22,7%, giảm hơn 6%), giá trị gia tăng còn thấp; chủ yếu là gia công, lắp ráp, phụ thuộc vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu và dễ gặp rủi ro, bị động nếu các tập đoàn FDI có sự chuyển dịch chuỗi cung ứng sang các quốc gia khác. Một số nhóm, mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng nông sản, tăng trưởng xuất khẩu vẫn chủ yếu tăng về số lượng và một số thời điểm tăng về giá do thị trường khan hiếm. Hàng xuất khẩu thô, hàm lượng công nghệ thấp vẫn chưa tăng được tăng cao; Thứ hai, cơ cấu xuất khẩu chậm được cải thiện, tỷ trọng hàng công nghệ cao, hàng nông sản chế biến sâu thương hiệu Việt Nam còn thấp; chưa có các ngành xuất khẩu dẫn dắt bằng công nghệ và sáng tạo; Thứ ba, xuất khẩu còn phụ thuộc lớn vào một số thị trường như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, dễ bị tác động bởi chính sách bảo hộ, điều tra phòng vệ thương mại, biến động chính trị và sự phục hồi chậm của các nền kinh tế lớn, nhất là Hoa Kỳ; Thứ tư, rào cản kỹ thuật và phòng vệ thương mại, gia tăng các vụ chống bán phá giá, chống trợ cấp; yêu cầu khắt khe trong truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, phát thải carbon, trong khi doanh nghiệp của Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó đáp ứng. Còn hiện tượng một số mặt hàng xuất khẩu sang một số thị trường như Hoa kỳ, Australia và New Zealand vi phạm tiêu chuẩn, quy định an toàn sinh học và an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng đến uy tín của hàng hóa Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng trên các thị trường này. Đặc biệt là từ ngày 01/01/2026, vấn đề về thuế đối ứng và Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA) của Mỹ có hiệu lực, cấm nhập khẩu một số loài hải sản của Việt Nam. Đây là thách thức lớn, bởi Mỹ là thị trường chủ lực về thủy sản Việt Nam; Thứ năm, chi phí logistics còn cao hơn một số quốc gia; năng lực hạ tầng còn bất cập, cảng biển, kho lạnh, logistics nông sản chưa đồng bộ; kết nối giao thông đường sắt, đường thủy, đường bộ và đường hàng không còn yếu kém, làm giảm nhiều sức cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu; Thứ sáu, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI chưa chặt chẽ, cùng với đó, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chưa phát triển, tỷ lệ nội địa hóa thấp, gây không ít cản trở cho việc tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Với mục tiêu phát triển xuất khẩu bền vững trên cơ sở cơ cấu cân đối, hài hòa, phát huy lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh, phát triển thương hiệu hàng hóa Việt Nam; nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, là động lực phát triển kinh tế nhanh và bền vững, cần tìm ra các giải pháp đột phá, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, khả thi trong bối cảnh kinh tế, chính trị thế giới hiện nay và trong những năm tới. 2. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho năm 2026 và những năm tiếp theo đến 2030 2.1. Quan điểm xuất khẩu đến 2030 Trên cơ sở “mục tiêu phát triển xuất nhập khẩu bền vững với cơ cấu cân đối, hài hòa, phát huy lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh, phát triển thương hiệu hàng hóa Việt Nam, nâng vao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, là động lực của tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, Bộ Công Thương đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành Quyết định số 493/QĐ-TTg ngày 19/4/2022, phê duyệt Chiến lược xuất khẩu hàng hóa đến năm 2030, trên 3 quan điểm cơ bản xuyên suốt”. Thứ nhất, phát triển xuất khẩu bền vững trên cơ sở hài hòa về cơ cấu hàng hóa, cơ cấu thị trường và cán cân thương mại với từng thị trường và khu vực thị trường; hài hòa giữa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn; hài hòa cơ hội tham gia và hưởng thụ thành quả tăng trưởng xuất khẩu; gắn với thương mại xanh và thương mại công bằng, với bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thứ hai, phát triển xuất khẩu hàng hóa gắn với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, khoa học - công nghệ; chuyển đổi số; phát triển kinh tế số; phát triển nền sản xuất xanh, sạch, bền vững, tuần hoàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản phẩm xuất khẩu; xây dựng thương hiệu hàng hóa Việt Nam trong xuất khẩu. Thứ ba, phát triển xuất khẩu gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành và địa phương nhằm phát huy hiệu quả cạnh tranh, khai thác hiệu quả, cơ hội và hạn chế tác động của các thách thức trong thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, hằng năm, ngay từ những tháng của quý 4 năm trước, các bộ, ngành và địa phường cần lập kế hoạch tổng thể phát triển ngành kinh tế trọng điểm, có lợi thế, đảm bảo sự cân đối, hài hòa trong sản xuất nhằm tránh tình trạng sản xuất dư thừa. Mặt khác, cần phát huy thế mạnh của sản phẩm của từng vùng để đảm bảo nâng cao tính cạnh tranh. 2.2. Giải pháp Để phát triển xuất khẩu cho năm 2026 và những năm tiếp theo đến 2030, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó, tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau: Thứ nhất, rà soát để bổ sung, chỉnh sửa cơ chế, chính sách kinh tế, chính sách xuất khẩu theo hướng ổn định, dài hạn. Việc rà soát cơ chế, chính sách kinh tế, thương mại, xuất khẩu phải được thực hiện một cách thường xuyên để đảm bảo phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cũng như bối cảnh quốc tế. Duy trì sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô thông qua việc hoàn thiện chính sách đầu tư, tài chính, cân đối ngân sách, ổn định tiền tệ, quản lý, điều hành giá, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; đơn giản hóa thủ tục hành chính, thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục xuất, nhập khẩu; chủ động phòng vệ thương mại… Theo đó, cần rà soát lại hệ thống các văn bản pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm phát hiện những hạn chế, không còn phù hợp với thực tế cũng như không phù hợp với quy định quốc tế và các cam kết trong các Hiệp định thương mại song phương và đa phương. Tháo gỡ các rào cản về hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế, tài chính đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Tăng cường quản lý nhà nước trong hoạt động xuất khẩu nhằm tạo điều kiện cho thương mại phát triển, chống gian lận thương mại và hướng tới thương mại công bằng. Hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng và đạt các chứng chỉ về tăng trưởng xanh, tăng trưởng bền vững, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn của các thị trường mục tiêu. Đảm bảo công bằng trong hoạt động xuất khẩu. Trên cơ sở đó, bổ sung, chỉnh sửa các chính sách cho phù hợp. Chủ động tham gia xây dựng các quy tắc và luật lệ chung của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tích cực bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, của doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam trong các tranh chấp kinh tế, thương mại và đầu tư quốc tế. Xây dựng thể chế kinh tế thị trường Việt Nam hiện đại, đảm bảo tính hệ thống, công khai, minh bạch và ổn định; đảm bảo thuận lợi cho xuất khẩu bền vững; thúc đẩy chế biến sâu, có hàm lượng công nghệ cao. Thứ hai, cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ, chuyển mạnh từ tăng sản lượng sang tăng giá trị; phát triển các ngành xuất khẩu giá trị gia tăng cao như các ngành điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác, thiết bị công nghiệp, công nghiệp sinh học, dược phẩm, nông nghiệp chế biến sâu, thực phẩm chức năng; giảm xuất khẩu sản phẩm thô, hạn chế xuất khẩu khoáng sản, nông sản sơ chế; gắn xuất khẩu với chuỗi chế biến - thương hiệu - logistics; tập trung trọng tâm vào xuất khẩu công nghệ, công nghệ cao, trí tuệ và thương hiệu Việt Nam; xây dựng thương hiệu quốc gia và thương hiệu doanh nghiệp; hình thành doanh nghiệp xuất khẩu đầu tàu, dẫn dắt của Việt Nam, đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân lớn vươn ra quốc tế; tạo nguồn cung đầy đủ, bền vững cho xuất khẩu; khuyến khích các dự án, các nghiên cứu về vật liệu mới, sản xuất và xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa thân thiện với môi trường, sản phẩm có hàm lượng khoa học, công nghệ cao. Thứ ba, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong hoạt động xuất khẩu Đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và ngày càng nâng cao chất lượng; cơ cấu lại ngành và doanh nghiệp trên cơ sở sử dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, nhất là Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có khả năng kết nối cao; chuyển nền kinh tế từ khai thác và sử dụng tài nguyên dưới dạng thô sang chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa; xây dựng các trung tâm logicstics vùng, quốc gia để tham gia mạng lưới logicstic khu vực và quốc tế; phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng ngành hàng, từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng địa phương để có phương án nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển mạnh mẽ khu vực tư nhân để trở thành động lực quan trọng và thực sự của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết số 68-NQ/ TW ngày 04/5/2025. Phát triển mạnh các liên kết kinh tế, tăng cường nguồn lực đầu tư cho phát triển sản xuất hàng hóa theo chiều sâu. Đầu tư phát triển thương hiệu quốc gia và đảm bảo sự hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trên thị trường quốc tế; khuyến khích hình thành các vùng sản xuất hàng xuất khẩu chủ lực tập trung, tạo nguồn hàng xuất khẩu quy mô lớn và có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh trạnh của sản phẩm, dịch vụ và của các doanh nghiệp xuất khẩu. Theo đó, doanh nghiệp cần phải đổi mới chiến lược và phương thức sản xuất, kinh doanh; tăng cường mối quan hệ và tích cực chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, tham gia vào mạng lưới sản xuất, phân phối khu vực và quốc tế; tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và kinh doanh trên nền tảng số của doanh nghiệp. Phát triển đa dạng hóa các phương thức xuất khẩu, kết hợp phương thức truyền thống với phương thức xuất khẩu hiện đại. Đẩy mạnh áp dụng thương mại điện tử xuyên biên giới và tham gia các sàn thương mại điện tử quốc tế. Tiếp tục đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm hàng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học cao. Tổ chức quy trình sản xuất hiện đại, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến nhằm tiết kiệm chi phí đầu vào để giảm giá thành sản phẩm hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Đổi mới quy cách, mẫu mã sản phẩm, mẫu mã bao bì nhằm phù hợp thị hiếu người tiêu dùng từng khu vực thị trường. Nâng cao năng lực quản trị của đội ngũ lãnh đạo các cấp thông qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý xuất, nhập khẩu. Có chiến lược đào tạo hợp lý; kết hợp với các cơ sở giáo dục đào tạo, các viện nghiên cứu chuyên ngành để xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức công nghệ thông tin nhằm bắt kịp với thời đại công nghệ số. Xây dựng quy trình quản trị phù hợp, tăng cường thực hiện phân cấp, phân quyền và chế độ thưởng, phạt nghiêm minh trong doanh nghiệp… Trên cơ sở đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ hàng hóa xuất khẩu. Thứ năm, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu: đẩy mạnh đàm phán song phương, đa phương với các thị trường, khu vực thị trường trọng điểm, nhiều tiềm năng; tăng cường các hoạt động xúc tiến xuất khẩu theo hướng chú trọng mở rộng thị trường sang các nước đang phát triển, các thị trường tiềm năng và thị trường mới nổi Trung Đông - châu Phi, Nam Á, Mỹ Latin… Phát triển xuất khẩu theo chiều sâu tới những thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, các nước ASEAN… Thứ sáu, khai thác, tận dụng hiệu quả các lợi thế do các FTA thế hệ mới đem lại. Việc áp thuế suất thấp hoặc bằng 0% đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong các FTA Việt Nam đã ký kết và thực thi là động lực thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ lưỡng và tận dụng những ưu đãi từ các FTA thế hệ mới đem lại như: CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP; phát triển thị trường ngách, thị trường cao cấp… để thâm nhập thị trường, tăng trưởng xuất khẩu đạt hiệu quả cao và bền vững. Thứ bảy, thúc đẩy phát triển kinh tế số, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cho hoạt động xuất khẩu nói riêng một cách bền vững. Theo đó, cần đẩy mạnh 3 đột phá chiến lược số, bao gồm thể chế số, hạ tầng số và nguồn lực số. Trên cơ sở đó tăng tốc độ phát triển lực lượng sản xuất mới, chất lượng cao, chuyên nghiệp; tăng cường đầu tư phát triển khoa học công nghệ, xây dựng các trung tâm công nghệ cao, thu hút đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia nhằm từng bước rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các nước trên thế giới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận và tăng tính thanh khoản các nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu phát triển. Tăng cường đổi mới công nghệ và sản phẩm mang tính sáng tạo. Thứ tám, tăng cường hoạt động thông tin, truyền thông trong xuất khẩu: đẩy mạnh thông tin truyền thông về xuất khẩu, về các thị trường quốc tế, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Bộ Công thương cần chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị phát hành các ấn phẩm thông tin về xuất khẩu. Nhà nước cần có sự đầu tư thỏa đáng để có cơ sở dữ liệu, phát triển mạnh cơ sở dữ liệu điện tử dùng chung và liên thông quốc gia để hỗ trợ xuất khẩu. Kết luận Phát huy kết quả tích cực trong xuất khẩu năm 2025, nhận thức đầy đủ những khó khăn, thách thức trong thời gian tới của kinh tế thế giới và trong nước, Việt Nam với sự nỗ lực, phát huy tính chủ động sáng tạo trong lãnh đạo chỉ đạo của các cấp Đảng, Chính quyền từ trung ương đến địa phương và sự đồng thuận, khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thách thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, xuất khẩu của Việt Nam sẽ có sự phát triển kỷ lục, hoàn thành vượt mức mục tiêu “Chiến lược xuất khẩu hàng hóa đến năm 2030”. Tài liệu tham khảo: 1. Bộ Công Thương, “Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2021-2030”; 2. Bộ Tài chính - Cục Thống kê, “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025; 3.Moit.vov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/chien-luoc-xuat-nhap-khau-hang-hoa-cua-vietnam-den-2030.html. Ngày 29 tháng 4 năm 2022; 4.Trungtamwto.vn/chuyen-de/31526-10-su-kien-noi-bat-cua-kinh-te-viet-nam-nam-2025- ngày đăng 31/12/2025; 5.Xaydungchinhsach.chinhphu.vn/xuat-nhap-khau-2025-ky-luc-kim-ngach-thac-thc-chat-luongtang-truong-119251229082019746.html. Cập nhật 02/01/2026. Tác giả: GS.TS Ngô Thế Chi - Học viện Tài chính (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)  

Ổn định vĩ mô 2026: Kỷ luật chính sách và dư địa phát triển

Bước vào năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục chịu tác động bởi bất định địa chính trị, phân mảnh thương mại và biến động tài chính - tiền tệ. Với độ mở lớn, Việt Nam chỉ có thể theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao một cách bền vững khi giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, qua đó tạo “dư địa” cho chính sách tài khóa - tiền tệ và đầu tư phát triển. Bài viết làm rõ bản chất của dư địa chính sách trong kỷ nguyên bất định, nhấn mạnh yêu cầu kỷ luật tài khóa, kỷ cương đầu tư công và vai trò của kiểm toán công trong phòng ngừa rủi ro, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước. Kỷ nguyên bất định và yêu cầu “neo” ổn định vĩ mô Nếu giai đoạn trước, rủi ro kinh tế thường xuất hiện theo “một cú sốc” (khủng hoảng tài chính, dịch bệnh, biến động dầu khí), thì giai đoạn hiện nay, rủi ro có xu hướng chồng lớp: vừa là địa chính trị - an ninh năng lượng, vừa là phân mảnh thương mại - chuỗi cung ứng, vừa là biến động dòng vốn - tỷ giá, lại đồng thời chịu áp lực từ chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Đặc tính mới của bất định là khó dự báo, lan truyền nhanh và kéo dài, khiến “độ trễ” chính sách tăng lên khi phản ứng chậm, chi phí ổn định vĩ mô sẽ lớn hơn; khi phản ứng quá mạnh hoặc thiếu phối hợp, rủi ro mất cân đối lại tích tụ.Trong bối cảnh đó, ổn định kinh tế vĩ mô không chỉ nhằm “giữ trật tự chỉ tiêu” (lạm phát, tỷ giá, bội chi, nợ công), mà quan trọng hơn là neo kỳ vọng của thị trường và người dân: kỳ vọng lạm phát, kỳ vọng tỷ giá, kỳ vọng lãi suất và kỳ vọng về tính nhất quán của chính sách. Một nền kinh tế muốn tăng tốc phải có “đường băng” ổn định đủ dài để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, ngân hàng yên tâm cấp tín dụng đúng chuẩn và Nhà nước có đủ dư địa xử lý cú sốc khi cần thiết.  Nền tảng năm 2025: “đệm an toàn” quan trọng cho 2026 Điểm thuận lợi của Việt Nam khi bước vào năm 2026 là nền tảng vĩ mô năm 2025 tương đối tích cực. Theo công bố của cơ quan thống kê, tăng trưởng GDP năm 2025 đạt mức cao (8,02%), trong khi lạm phát bình quân được kiểm soát quanh ngưỡng mục tiêu của Quốc hội. Đây là hai biến số then chốt tạo ra tính tin cậy cho điều hành tăng trưởng cao, giúp cải thiện nguồn thu và năng lực trả nợ; lạm phát ổn định giúp giảm chi phí vốn và giữ sức mua của người dân. Một lợi thế đáng chú ý khác là dư địa tài khóa. Các báo cáo chính thức những năm gần đây cho thấy tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam đã giảm đáng kể so với giai đoạn 2020-2021, tạo khoảng trống để ưu tiên chi đầu tư phát triển, nhất là các dự án hạ tầng chiến lược, năng lượng, logistics và chuyển đổi số. Tuy nhiên, chính “khoảng trống” này cũng có thể trở thành rủi ro nếu xuất hiện tâm lý chủ quan. Dư địa tài khóa không phải là “quyền chi tiêu rộng tay”, mà là nguồn lực chiến lược cần được quản trị bằng kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Dư địa chính sách năm 2026: có, nhưng không vô hạn Trong điều hành kinh tế, “dư địa chính sách” thường bị hiểu đơn giản là còn “room” nợ công, còn “room” lạm phát, còn “room” tín dụng. Cách hiểu đó đúng nhưng chưa đủ. Bản chất của dư địa chính sách là khả năng triển khai các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng mà không làm suy yếu ổn định vĩ mô trung hạn. Dư địa tài khóa cơ hội mở rộng đầu tư phát triển, nhưng phải “đúng dự án - đúng tiến độ - đúng hiệu quả”. Khi thế giới bất định, vai trò của tài khóa càng nổi bật, bởi đầu tư công và chi tiêu công có thể tạo lực kéo tổng cầu, kích hoạt đầu tư tư nhân, đồng thời nâng năng lực cung ứng dài hạn. Nhưng tài khóa chỉ thực sự hiệu quả khi chi tiêu chuyển hóa thành năng lực sản xuất mới và năng suất mới. Nếu đầu tư công dàn trải, đội vốn, chậm tiến độ, hoặc chọn dự án theo “cơ chế xin - cho”, thì chi tiêu sẽ làm tăng nghĩa vụ nợ mà không tạo ra năng lực trả nợ tương ứng, khiến dư địa nhanh chóng thu hẹp. Vì vậy, mở rộng tài khóa năm 2026 cần bám 3 kỷ luật: (i) Kỷ luật lựa chọn dự án theo hiệu quả - lan tỏa - khả năng hoàn thành; (ii) Kỷ luật thực hiện (tiến độ, chất lượng, định mức, kiểm soát đội vốn); (iii) Kỷ luật minh bạch - kiểm toán - công khai để chống thất thoát, lãng phí và lợi ích nhóm. Dư địa tiền tệ: linh hoạt nhưng phải nâng “chất lượng tín dụng”. Tiền tệ có thể hỗ trợ tăng trưởng thông qua lãi suất, thanh khoản và tín dụng. Nhưng trong kỷ nguyên bất định, bài toán quan trọng không phải chỉ là “tăng tín dụng bao nhiêu”, mà là tín dụng chảy vào đâu và rủi ro được kiểm soát thế nào. Nếu tín dụng tăng nhanh nhưng dồn vào các phân khúc đầu cơ, thị trường tài sản dễ biến động, hoặc doanh nghiệp yếu kém, thì rủi ro nợ xấu tăng lên, chi phí xử lý hệ thống sẽ lớn, làm “đóng” dư địa chính sách của các năm sau. Điều hành tiền tệ năm 2026 vì thế cần nhấn mạnh: (i) định hướng tín dụng vào lĩnh vực tạo năng suất (sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ, hạ tầng), (ii) kiểm soát chặt rủi ro ở các lĩnh vực nhạy cảm, (iii) tăng phối hợp với tài khóa để tránh tình trạng chính sách “kéo - đẩy” ngược chiều. Dư địa đối ngoại: tăng sức chống chịu thương mại và giảm rủi ro “lan truyền”. Việt Nam có lợi thế hội nhập sâu và mạng lưới FTA rộng, nhưng cũng chịu tác động mạnh khi thị trường thế giới biến động. Dư địa đối ngoại bền vững không chỉ là dự trữ ngoại hối hay cán cân thương mại, mà còn là năng lực thích ứng tiêu chuẩn xanh - tiêu chuẩn số - truy xuất nguồn gốc và khả năng nâng tỷ lệ nội địa hóa để tránh rủi ro về xuất xứ, phòng vệ thương mại. Nói cách khác, dư địa đối ngoại phụ thuộc ngày càng nhiều vào chất lượng thể chế và năng lực doanh nghiệp, chứ không chỉ phụ thuộc vào “con số” ngắn hạn. Kỷ luật chính sách: điều kiện đủ để biến dư địa thành tăng trưởng bền vững Trong thực tiễn, nhiều quốc gia có dư địa nhưng không chuyển hóa được thành tăng trưởng bền vững vì thiếu kỷ luật chính sách. Kỷ luật ở đây gồm ba tầng: Kỷ luật tài khóa: tuân thủ trần bội chi - nợ công, minh bạch ngân sách, kiểm soát nghĩa vụ nợ tiềm ẩn; Kỷ cương đầu tư công: chống đội vốn, chống chậm tiến độ, chống phân bổ dàn trải; Kỷ luật phối hợp chính sách: tài khóa - tiền tệ - giá cả - thị trường tài sản vận hành đồng bộ, tránh tạo sốc kỳ vọng. Từ góc nhìn quản trị công, kỷ luật chính sách không thể chỉ dựa vào chỉ đạo hành chính. Nó cần cơ chế kiểm soát quyền lực tài chính công, cơ chế trách nhiệm giải trình, và đặc biệt là bằng chứng độc lập để đánh giá hiệu quả thực thi. Đây là “không gian” mà kiểm toán công có thể và cần đóng vai trò trung tâm. Trong điều kiện bình thường, kiểm toán thường được nhìn như công cụ phát hiện sai phạm và kiến nghị xử lý. Nhưng trong kỷ nguyên bất định, khi dư địa chính sách trở thành tài sản chiến lược, kiểm toán công cần được nhìn đúng vai trò như một thiết chế bảo đảm kỷ luật tài chính công, góp phần củng cố ổn định vĩ mô theo ba hướng. Thứ nhất, kiểm toán để bảo vệ kỷ luật tài khóa. Kiểm toán ngân sách, kiểm toán nợ công và nghĩa vụ nợ tiềm ẩn giúp nhận diện sớm rủi ro tài khóa, giảm khả năng “mở rộng vượt khả năng hấp thụ” và củng cố tính bền vững của chính sách chi tiêu trong trung hạn. Thứ hai, kiểm toán để nâng hiệu quả đầu tư công theo 3E (kinh tế - hiệu quả - hiệu lực). Khi mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi mở rộng đầu tư phát triển, “điểm nghẽn” không nằm ở thiếu vốn mà thường nằm ở: lựa chọn dự án, thủ tục, quản trị dự án, định mức - đơn giá và trách nhiệm của chủ đầu tư. Kiểm toán hoạt động và kiểm toán hiệu quả, nếu làm tốt, sẽ giúp chuyển từ “chi đúng” sang “chi đáng”. Thứ ba, kiểm toán để củng cố niềm tin và trách nhiệm giải trình. Niềm tin thị trường là “neo” quan trọng của ổn định vĩ mô. Một hệ thống tài chính công minh bạch, kiểm toán mạnh, công khai kết quả và theo dõi thực hiện kiến nghị nghiêm túc sẽ làm giảm “phí rủi ro” của nền kinh tế, qua đó giảm chi phí vốn, tăng sức hấp dẫn đầu tư. Năm 2026 đòi hỏi một tư duy điều hành mới: không chỉ ứng phó với rủi ro đã xảy ra, mà quản trị rủi ro ngay trong thiết kế và thực thi chính sách. Việt Nam có dư địa chính sách nhất định nhờ nền tảng vĩ mô tích cực và dư địa tài khóa cải thiện; song dư địa đó không vô hạn và có thể bị thu hẹp nhanh nếu thiếu kỷ luật tài chính công, thiếu kỷ cương đầu tư và thiếu phối hợp chính sách. Vì vậy, thông điệp cốt lõi cho năm 2026 là giữ ổn định vĩ mô để mở dư địa phát triển, và mở dư địa phải đi cùng kỷ luật chính sách. Trong cấu trúc đó, kiểm toán công không chỉ là công cụ kiểm tra sau cùng, mà là thiết chế “gác cổng” kỷ luật tài khóa, bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và củng cố niềm tin - nền tảng quan trọng nhất của ổn định trong kỷ nguyên bất định. Tài liệu tham khảo 1. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2024). Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và giai đoạn 2026-2030. Hà Nội; 2. Chính phủ (2025). Báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2025, kế hoạch ngân sách nhà nước năm 2026. Hà Nội; 3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2025). Báo cáo điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ổn định hệ thống ngân hàng năm 2025; định hướng năm 2026. Hà Nội; 4. Kiểm toán nhà nước (2024). Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2023-2024 và kiến nghị đối với quản lý tài chính công, đầu tư công. Hà Nội; 5. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (2024). Vietnam: Article IV Consultation – Staff Report. Washington, D.C. Tác giả: TS. Đào Thị Bích Hòa, Trường Đại học Thành Đông ThS. Nguyễn Thị Hải Yến, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Độc lập, tự chủ là là giữ vững chủ quyền và năng lực tự quyết định mọi hoạt động của quốc gia - dân tộc về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo lợi ích cao nhất của quốc gia và ý chí của người dân, không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào từ bên ngoài; trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ của quốc gia… Từ khoá: Lực lượng sản xuất mới; nền kinh tế; độc lập; tự chủ; phát triển; hội nhập; đất nước. 1. Điểm nhấn bối cảnh thế giới hiện nay Thế giới đương đại đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình địa chính trị, kinh tế và môi trường khu vực và toàn cầu, trước mắt và lâu dài; đồng thời, tác động lan toả mạnh mẽ đến tất cả các nước dù thuộc chế độ chính trị xã hội nào và có trình độ phát triển cao hay thấp ra sao..., trong đó có Việt Nam, với một số động thái nổi bật sau: Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực đa trung tâm. Nổi bật trong số đó là xu hướng gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước và nhóm nước Mỹ, EU - Nga - Trung Quốc, Ấn Độ; kéo theo dự gia tăng chi phí gắn với chạy đua quân sự và chạy đua công nghệ cao phục vụ chiến tranh tổng lực cả về quân sự, kinh tế, truyền thông, thông tin và tâm lý. Hệ thống đa phương bị thách thức ngày càng lớn, nhưng vẫn được phần đông các nước trong cộng đồng quốc tế coi trọng. Cách mạng công nghiệp 4.0 làm trầm trọng hơn xu hướng phân mảng, chia rẽ, nhất là chia rẽ số giữa các nước, các nhóm nước, gây ra những tác động lâu dài đối với cục diện thế giới và khu vực. Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn, dù chậm lại; các hoạt động vận tải, di chuyển vật chất toàn cầu suy giảm, nhường chỗ cho những phương cách, lĩnh vực toàn cầu hoá phi vật chất. Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng, còn đầu tư quốc tế có thể giảm so với trước và được cấu trúc lại theo hướng gia tăng tính bền vững của các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu và hướng vào các lĩnh vực xanh, lĩnh vực số; sự cân bằng ngày càng đậm nét hơn giữa tự do hóa, mở cửa với tự cường; giữa hội nhập sâu rộng, toàn diện với tự chủ chiến lược; giữa tham gia cuộc chơi chung với nâng cao khả năng chống chịu bên trong từng quốc gia, từng nền kinh tế. Tính bền vững, bao trùm được quan tâm hơn; chuyển đổi số và kinh tế số trở thành xu thế lớn; tiến trình khu vực hóa được đẩy nhanh hơn. Đồng thời, sẽ tiếp tục gia tăng sự phân mảnh công nghệ và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng kinh tế thế giới theo hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất vào các thị trường quốc gia cùng phe nhóm và đồng minh, bạn bè hoặc trở lại trong nước. Tình trạng chạy đua, đối kháng về khoa học - công nghệ, đối kháng về kinh tế, cạnh tranh tài nguyên, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chạy đua bảo vệ sở hữu trí tuệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế bị thách thức nghiêm trọng hơn bởi chính trị cường quyền, cạnh tranh nước lớn. Nhận thức chung về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, hệ thống đa phương và ngoại giao đa phương của đa số các nước được nâng lên cùng với “áp lực buộc phải chọn phe”. Các nước vừa và nhỏ càng coi trọng vai trò của luật pháp quốc tế trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của mình. Ngoài ra, biến động khí hậu cực đoan và yêu cầu về bảo vệ môi trường và sức khoẻ người tiêu dùng cũng ngày càng cao, nghiêm ngặt và mở rộng hơn. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gia tăng và đan xen, cộng hưởng gây hậu quả nặng nề hơn cho mỗi quốc gia và toàn thế giới, cả hiện tại và tương lai. Về tổng thể, thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại và áp lực nợ công và rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế, lạm phát, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng so với 3 thập kỷ trước. Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Một trong những đặc trưng thời đại hiện nay là sự xuất hiện các cấu trúc lực lượng sản xuất mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (như vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người và công nghệ tự động mới, AI và dữ liệu…), không gian kinh tế (nền kinh tế số và không gian kinh tế số), đồng tiền số/ảo và thị trường mới (mua bán các yếu tố và thành phẩm kinh tế số…)… Đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất mới này là ngày càng hoạt động theo chuỗi, kết nối thành hệ thống dây chuyền, vừa có tính khép kín, vừa mang tính mở cao. Các biến động về cung - cầu, giá cả và chu kỳ thị trường liên quan cũng có nhiều động thái mới lạ, nhanh chóng, khó lường và mạnh mẽ, lan toả rộng, với phạm vi ngày càng bao quát hơn cả vĩ mô và vi mô, trong nước và quốc tế. Không gian kinh tế và năng suất lao động tăng nhanh, song các ranh giới và chủ quyền quốc gia ngày càng bị mờ dần trước sức mạnh, sự phụ thuộc và sự độc quyền công nghệ. Các lợi thế so sánh truyền thống cạn dần hoặc giảm dần ý nghĩa, trong khi các thách thức và cả các cơ hội mới xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt, một quốc gia và tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các chuỗi cung ứng đầu vào, thị trường đầu ra và các đối tác công nghệ liên quan ngoài biên giới. Dữ liệu và thông tin, cũng như công nghệ và khả năng đổi mới, sáng tạo trở thành nguồn tài nguyên mới vô giá, ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh hiệu quả của quốc gia và doanh nghiệp trong các hoạt động kinh tế mới, với nhiều sản phẩm và thị trường mới khó tính đúng tính đủ giá trị bằng tiền như các dạng kinh té vật chất truyền thống. Ngày càng nhiều ngành nghề truyền thống bị mất đi và xuất hiện những lĩnh vực, nghề nghiệp mới; cơ cấu lao động và yêu cầu giáo dục, đào tạo và đảm bảo an sinh xã hội cũng theo đó mà có sự chuyển dịch mới, sâu sắc. Trong bối cảnh đó, tính độc lập, tự chủ của quốc gia bị thách thức mạnh, thậm chí mất đi nhiều ý nghĩa nội hàm yêu cầu cũ, nhất là các quốc gia chậm thích ứng với chuyển đổi số, không có công nghệ nguồn và năng lực đổi mới, sáng tạo cao, thiếu phản ứng thị trường và chính sách nhanh nhạy và hiệu quả. Cách mạng công nghiệp 4.0 trong khi đem lại cơ hội học hỏi, gia tăng các loại hình việc làm mới, cơ hội “rượt đuổi và bắt kịp” cho những nước đi sau như Việt Nam, thì cũng làm tăng áp lực về và thách thức về nâng cao năng lực tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, cơ hội thu hút FDI và đảm bảo an sinh xã hội cho lao động Việt Nam. Thứ ba, các tiêu chí đo lường sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Ngày nay sức mạnh của các nước thường được đo bằng: i, Sức mạnh cứng: sức mạnh kinh tế (quy mô GDP, khả năng cạnh tranh thị trường và sự lành mạnh tài chính), tiềm lực khoa học - công nghệ; sức mạnh quốc phòng (số lượng quân đội, chi tiêu quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, mạng lưới đồng minh…); ii, Sức mạnh mềm (sức hấp dẫn về mô hình, hệ giá trị; số lượng đối tác, vị thế, ảnh hưởng trên thế giới…); iii, Sức mạnh thông minh (khả năng sử dụng các loại sức mạnh để đạt được mục tiêu quốc gia, sự đúng đắn của chính sách và hiệu quả triển khai chính sách, khả năng điều chỉnh, phản ứng khi khủng hoảng…). Tổng thể sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Sức mạnh quốc gia còn được đánh giá theo nhiều tiêu chí khác tuỳ góc nhìn của các tổ chức quốc tế, song độc lập, tự chủ và đảm bảo sức chống chịu cao của nền kinh tế luôn là tiêu chí trọng tâm hội tụ và đo lường sức mạnh kinh tế quốc gia cả hiện tại và tương lai. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy, không có ngoại lệ không đổ vỡ và phá sản nào cho bất kỳ mô hình phát triển, nền kinh tế quốc gia và doanh nghiệp, cũng như mọi tỷ phú thế giới nào nếu không có nhận thức đúng và kịp thời phản ứng linh hoạt chính sách và thị trường trong một bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng nhiều biến động phức tạp và khó lường. Đặc biệt, sự thành công của mỗi quốc gia tỷ lệ thuận với năng lực và hiệu lực, hiệu quả xây dựng và vận hành cơ chế đảm bảo hài hoà lợi ích, hội tụ, lan toả và phát huy được tổng hợp sức mạnh, các nguồn lực trong nước và quốc tế cho các mục tiêu lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và thực tiễn trong nước, quốc tế; giữ vững niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin đầu tư và tiêu dùng thị trường; củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội cao; chủ động bám sát tình hình, tăng năng lực thông tin, dự báo và linh hoạt các kịch bản ứng phó kịp thời. 2. Nhận diện nền kinh tế độc lập tự chủ và sức chống chịu nền kinh tế theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, nêu rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 01/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế. Đại hội XII (năm 2016), xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế… kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Trong văn kiện Đại hội XIII, lần đầu tiên Đảng nêu rõ yêu cầu: Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế thế giới; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn bó mật thiết với giữ vững các cân đối lớn đi đôi với bảo đảm an ninh kinh tế; Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác; Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường trong nước; Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; Giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; Tăng cường đào tạo cán bộ… có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…; Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; Phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điểm mới trong định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Đại hội XIII là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị cả ở cấp quốc gia và doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động của những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường; phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế; đẩy mạnh đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Đặc biệt, văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Điều đó là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. Đây cũng là thông điệp khẳng định sự nhất quán trong nhận thức chính trị nói chung của Đảng ta về định hướng nội dung và mục tiêu con đường đổi mới, hội nhập của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, phù hợp với thực tiễn trong nước và xu hướng chung trên thế giới. Đại hội XIII cũng phân định rõ hơn vai trò, nội dung, yêu cầu và các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước trong phát triển và củng cố các quan hệ gắn kết giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; lần đầu tiên mở rộng, nhấn mạnh và làm rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội, thay vì chỉ có quan hệ Nhà nước với Thị trường trong văn kiện các kỳ Đại hội trước đây… 3. Yêu cầu mới và giải pháp cần có để đảm bảo tính độc lập tự chủ và tăng sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh trên, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục coi trọng giải quyết một số vấn đề sau: Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung yêu cầu mô hình kinh tế tự chủ, linh hoạt hoá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhà nước cần điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đầy đủ và thực chất của Việt Nam. Theo đó, thu hẹp dần cả về quy mô, tỷ trọng và phạm vi hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh tế vì lợi nhuận, tập trung nắm chủ đạo một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt và hoạt động do Nhà nước cần độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Đồng thời, phương thức chủ đạo cũng mềm và tỷ lệ cũng linh hoạt hơn, chủ yếu tham gia dưới hình thức cổ phần và giảm tối đa việc Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế thông qua các doanh nghiệp nhà nước, chuyển một số nhiệm vụ mà các bộ, ngành, cơ quan nhà nước không cần thiết phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đảm nhận. Theo thống kê chung trên thế giới, ở các nước, Chính phủ chỉ giữ 20% vốn tại doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 5%-20% GDP… Thứ hai, đề cao vai trò kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, vừa thu hút công nghệ từ bên ngoài, vừa tăng cường năng lực đổi mới, sáng tạo và tự chủ công nghệ trong nước. Việt Nam cần đồng bộ và đa dạng hoá nhiều giải pháp từ chính trị, đối ngoại đến các cơ chế, chính sách kinh tế - tài chính thích ứng bảo đảm lòng tin chiến lược từ đối tác, nhất là các “đối tác chiến lược toàn diện”, để nhận được đầu tư FDI vào các ngành công nghệ cao hoặc được mua công nghệ cao, cho phép Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng công nghệ cao “mang tính bạn bè” trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, triển khai nhanh và hiệu quả thực chất các chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Do đó, phải sớm thể chế hoá chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của đất nước về tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm; lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo trong tầm nhìn chung của đất nước. Nhà nước bên cạnh việc phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước, cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, có sứ mệnh dẫn dắt, hỗ trợ trở lại các doanh nghiệp nội địa khác cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải có chính sách riêng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, cũng như thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới công nghệ, tham gia các lĩnh vực chiến lược, phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, an ninh năng lượng và một số lĩnh vực đặc biệt trong các dự án quan trọng quốc gia; kiểm soát chặt chẽ tình trạng doanh nghiệp độc quyền và thao túng chính sách; bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu (trong đó có quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình), quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực thi hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân; giảm thiểu rủi ro pháp lý, hạn chế tối đa tình trạng thay đổi chính sách đột ngột gây tổn thất cho doanh nghiệp; tạo lập cơ chế hỗ trợ và bảo vệ nhà đầu tư tư nhân, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo… Thứ ba, củng cố niềm tin chính trị, nỗ lực đột phá thể chế, tinh gọn và nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước và toàn hệ thống chính trị để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước theo hướng độc lập, tự chủ. Động lực mới được cộng hưởng và gắn với kết quả trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài của quá trình tinh gọn bộ máy; củng cố lòng tin, cải thiện vị thế và sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, khai thác hiệu quả cơ hội đầu tư mới và các nguồn lực tiềm năng cho phát triển cả vĩ mô và vi mô, trước mắt và lâu dài, trong nước và ngoài nước. Với tinh thần đó, trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ thời gian tới cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là về hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; coi trọng duy trì sự ổn định và phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hội nhập quốc tế; thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới động lực tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh chất lượng của nền kinh tế; tập trung tạo mọi điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết và lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hoà Nhà nước - Thị truờng - Xã hội trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách đa dạng hóa và phối hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế; khả năng tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và giữ vững lòng tin trên thị trường, củng cố uy tín quốc gia và niềm tin chiến lược quốc tế vào các đột phá thể chế Việt Nam có tính hội nhập cao và bền vững hơn, từng bước định hình một tầm nhìn mới, một thực tiễn mới và mở ra triển vọng phát triển mới trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển mình hội nhập cùng thế giới… Không ngừng hoàn thiện, củng cố nhận thức toàn diện, đầy đủ, sâu sắc và tổ chức xây dựng hiệu quả mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, có sức chống chịu cao ở nước ta là biểu hiện và thước đo sự thành công bản lĩnh, trí tuệ về Đổi mới và Cách mạng của Đảng. Đồng thời, đó cũng là quá trình tạo lập và hiện thực hóa các mục tiêu, động lực và cơ chế để gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và để người dân được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn thành quả của công cuộc đổi mới; để giữ vững được ổn định chính trị và kinh tế, củng cố đồng thuận và đoàn kết xã hội, không ngừng cải thiện các quan hệ và vị thế quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn… Tài liệu tham khảo: 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 102; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2016, tr. 111; 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021; 4. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; 6.https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824082/quan-diem-moi-ve-xaydung-nen-kinh-te-viet-nam-doc-lap%2C-tu-chu-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx#. Tác giả: PGS.TS Ngô Thanh Hoàng, Ủy viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TS Nguyễn Minh Phong, Báo Nhân dân (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)