Độc lập, tự chủ là là giữ vững chủ quyền và năng lực tự quyết định mọi hoạt động của quốc gia - dân tộc về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo lợi ích cao nhất của quốc gia và ý chí của người dân, không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào từ bên ngoài; trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ của quốc gia…
Từ khoá: Lực lượng sản xuất mới; nền kinh tế; độc lập; tự chủ; phát triển; hội nhập; đất nước.
1. Điểm nhấn bối cảnh thế giới hiện nay
Thế giới đương đại đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình địa chính trị, kinh tế và môi trường khu vực và toàn cầu, trước mắt và lâu dài; đồng thời, tác động lan toả mạnh mẽ đến tất cả các nước dù thuộc chế độ chính trị xã hội nào và có trình độ phát triển cao hay thấp ra sao..., trong đó có Việt Nam, với một số động thái nổi bật sau:
Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực đa trung tâm.
Nổi bật trong số đó là xu hướng gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước và nhóm nước Mỹ, EU - Nga - Trung Quốc, Ấn Độ; kéo theo dự gia tăng chi phí gắn với chạy đua quân sự và chạy đua công nghệ cao phục vụ chiến tranh tổng lực cả về quân sự, kinh tế, truyền thông, thông tin và tâm lý.
Hệ thống đa phương bị thách thức ngày càng lớn, nhưng vẫn được phần đông các nước trong cộng đồng quốc tế coi trọng.
Cách mạng công nghiệp 4.0 làm trầm trọng hơn xu hướng phân mảng, chia rẽ, nhất là chia rẽ số giữa các nước, các nhóm nước, gây ra những tác động lâu dài đối với cục diện thế giới và khu vực.
Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn, dù chậm lại; các hoạt động vận tải, di chuyển vật chất toàn cầu suy giảm, nhường chỗ cho những phương cách, lĩnh vực toàn cầu hoá phi vật chất. Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng, còn đầu tư quốc tế có thể giảm so với trước và được cấu trúc lại theo hướng gia tăng tính bền vững của các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu và hướng vào các lĩnh vực xanh, lĩnh vực số; sự cân bằng ngày càng đậm nét hơn giữa tự do hóa, mở cửa với tự cường; giữa hội nhập sâu rộng, toàn diện với tự chủ chiến lược; giữa tham gia cuộc chơi chung với nâng cao khả năng chống chịu bên trong từng quốc gia, từng nền kinh tế. Tính bền vững, bao trùm được quan tâm hơn; chuyển đổi số và kinh tế số trở thành xu thế lớn; tiến trình khu vực hóa được đẩy nhanh hơn.
Đồng thời, sẽ tiếp tục gia tăng sự phân mảnh công nghệ và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng kinh tế thế giới theo hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất vào các thị trường quốc gia cùng phe nhóm và đồng minh, bạn bè hoặc trở lại trong nước. Tình trạng chạy đua, đối kháng về khoa học - công nghệ, đối kháng về kinh tế, cạnh tranh tài nguyên, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chạy đua bảo vệ sở hữu trí tuệ... giữa các nước ngày càng gay gắt.
Xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế bị thách thức nghiêm trọng hơn bởi chính trị cường quyền, cạnh tranh nước lớn. Nhận thức chung về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, hệ thống đa phương và ngoại giao đa phương của đa số các nước được nâng lên cùng với “áp lực buộc phải chọn phe”. Các nước vừa và nhỏ càng coi trọng vai trò của luật pháp quốc tế trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của mình.
Ngoài ra, biến động khí hậu cực đoan và yêu cầu về bảo vệ môi trường và sức khoẻ người tiêu dùng cũng ngày càng cao, nghiêm ngặt và mở rộng hơn. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gia tăng và đan xen, cộng hưởng gây hậu quả nặng nề hơn cho mỗi quốc gia và toàn thế giới, cả hiện tại và tương lai.
Về tổng thể, thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại và áp lực nợ công và rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế, lạm phát, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng so với 3 thập kỷ trước.
Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia.
Một trong những đặc trưng thời đại hiện nay là sự xuất hiện các cấu trúc lực lượng sản xuất mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (như vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người và công nghệ tự động mới, AI và dữ liệu…), không gian kinh tế (nền kinh tế số và không gian kinh tế số), đồng tiền số/ảo và thị trường mới (mua bán các yếu tố và thành phẩm kinh tế số…)…
Đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất mới này là ngày càng hoạt động theo chuỗi, kết nối thành hệ thống dây chuyền, vừa có tính khép kín, vừa mang tính mở cao. Các biến động về cung - cầu, giá cả và chu kỳ thị trường liên quan cũng có nhiều động thái mới lạ, nhanh chóng, khó lường và mạnh mẽ, lan toả rộng, với phạm vi ngày càng bao quát hơn cả vĩ mô và vi mô, trong nước và quốc tế. Không gian kinh tế và năng suất lao động tăng nhanh, song các ranh giới và chủ quyền quốc gia ngày càng bị mờ dần trước sức mạnh, sự phụ thuộc và sự độc quyền công nghệ. Các lợi thế so sánh truyền thống cạn dần hoặc giảm dần ý nghĩa, trong khi các thách thức và cả các cơ hội mới xuất hiện ngày càng nhiều.
Đặc biệt, một quốc gia và tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các chuỗi cung ứng đầu vào, thị trường đầu ra và các đối tác công nghệ liên quan ngoài biên giới.
Dữ liệu và thông tin, cũng như công nghệ và khả năng đổi mới, sáng tạo trở thành nguồn tài nguyên mới vô giá, ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh hiệu quả của quốc gia và doanh nghiệp trong các hoạt động kinh tế mới, với nhiều sản phẩm và thị trường mới khó tính đúng tính đủ giá trị bằng tiền như các dạng kinh té vật chất truyền thống.
Ngày càng nhiều ngành nghề truyền thống bị mất đi và xuất hiện những lĩnh vực, nghề nghiệp mới; cơ cấu lao động và yêu cầu giáo dục, đào tạo và đảm bảo an sinh xã hội cũng theo đó mà có sự chuyển dịch mới, sâu sắc.
Trong bối cảnh đó, tính độc lập, tự chủ của quốc gia bị thách thức mạnh, thậm chí mất đi nhiều ý nghĩa nội hàm yêu cầu cũ, nhất là các quốc gia chậm thích ứng với chuyển đổi số, không có công nghệ nguồn và năng lực đổi mới, sáng tạo cao, thiếu phản ứng thị trường và chính sách nhanh nhạy và hiệu quả.
Cách mạng công nghiệp 4.0 trong khi đem lại cơ hội học hỏi, gia tăng các loại hình việc làm mới, cơ hội “rượt đuổi và bắt kịp” cho những nước đi sau như Việt Nam, thì cũng làm tăng áp lực về và thách thức về nâng cao năng lực tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, cơ hội thu hút FDI và đảm bảo an sinh xã hội cho lao động Việt Nam.
Thứ ba, các tiêu chí đo lường sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả.
Ngày nay sức mạnh của các nước thường được đo bằng: i, Sức mạnh cứng: sức mạnh kinh tế (quy mô GDP, khả năng cạnh tranh thị trường và sự lành mạnh tài chính), tiềm lực khoa học - công nghệ; sức mạnh quốc phòng (số lượng quân đội, chi tiêu quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, mạng lưới đồng minh…); ii, Sức mạnh mềm (sức hấp dẫn về mô hình, hệ giá trị; số lượng đối tác, vị thế, ảnh hưởng trên thế giới…); iii, Sức mạnh thông minh (khả năng sử dụng các loại sức mạnh để đạt được mục tiêu quốc gia, sự đúng đắn của chính sách và hiệu quả triển khai chính sách, khả năng điều chỉnh, phản ứng khi khủng hoảng…).
Tổng thể sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả.
Sức mạnh quốc gia còn được đánh giá theo nhiều tiêu chí khác tuỳ góc nhìn của các tổ chức quốc tế, song độc lập, tự chủ và đảm bảo sức chống chịu cao của nền kinh tế luôn là tiêu chí trọng tâm hội tụ và đo lường sức mạnh kinh tế quốc gia cả hiện tại và tương lai.
Thực tế thế giới hiện đại cho thấy, không có ngoại lệ không đổ vỡ và phá sản nào cho bất kỳ mô hình phát triển, nền kinh tế quốc gia và doanh nghiệp, cũng như mọi tỷ phú thế giới nào nếu không có nhận thức đúng và kịp thời phản ứng linh hoạt chính sách và thị trường trong một bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng nhiều biến động phức tạp và khó lường.
Đặc biệt, sự thành công của mỗi quốc gia tỷ lệ thuận với năng lực và hiệu lực, hiệu quả xây dựng và vận hành cơ chế đảm bảo hài hoà lợi ích, hội tụ, lan toả và phát huy được tổng hợp sức mạnh, các nguồn lực trong nước và quốc tế cho các mục tiêu lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và thực tiễn trong nước, quốc tế; giữ vững niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin đầu tư và tiêu dùng thị trường; củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội cao; chủ động bám sát tình hình, tăng năng lực thông tin, dự báo và linh hoạt các kịch bản ứng phó kịp thời.
2. Nhận diện nền kinh tế độc lập tự chủ và sức chống chịu nền kinh tế theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, nêu rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng.
Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 01/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế.
Đại hội XII (năm 2016), xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế… kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.
Trong văn kiện Đại hội XIII, lần đầu tiên Đảng nêu rõ yêu cầu: Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế thế giới; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn bó mật thiết với giữ vững các cân đối lớn đi đôi với bảo đảm an ninh kinh tế; Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác; Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường trong nước; Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; Giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; Tăng cường đào tạo cán bộ… có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…; Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; Phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Điểm mới trong định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Đại hội XIII là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị cả ở cấp quốc gia và doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động của những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường; phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế; đẩy mạnh đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác.
Đặc biệt, văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Điều đó là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. Đây cũng là thông điệp khẳng định sự nhất quán trong nhận thức chính trị nói chung của Đảng ta về định hướng nội dung và mục tiêu con đường đổi mới, hội nhập của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, phù hợp với thực tiễn trong nước và xu hướng chung trên thế giới.
Đại hội XIII cũng phân định rõ hơn vai trò, nội dung, yêu cầu và các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước trong phát triển và củng cố các quan hệ gắn kết giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; lần đầu tiên mở rộng, nhấn mạnh và làm rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội, thay vì chỉ có quan hệ Nhà nước với Thị trường trong văn kiện các kỳ Đại hội trước đây…
3. Yêu cầu mới và giải pháp cần có để đảm bảo tính độc lập tự chủ và tăng sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới
Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh trên, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục coi trọng giải quyết một số vấn đề sau:
Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung yêu cầu mô hình kinh tế tự chủ, linh hoạt hoá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.
Vai trò chủ đạo của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhà nước cần điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đầy đủ và thực chất của Việt Nam. Theo đó, thu hẹp dần cả về quy mô, tỷ trọng và phạm vi hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh tế vì lợi nhuận, tập trung nắm chủ đạo một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt và hoạt động do Nhà nước cần độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước.
Đồng thời, phương thức chủ đạo cũng mềm và tỷ lệ cũng linh hoạt hơn, chủ yếu tham gia dưới hình thức cổ phần và giảm tối đa việc Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế thông qua các doanh nghiệp nhà nước, chuyển một số nhiệm vụ mà các bộ, ngành, cơ quan nhà nước không cần thiết phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đảm nhận.
Theo thống kê chung trên thế giới, ở các nước, Chính phủ chỉ giữ 20% vốn tại doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 5%-20% GDP…
Thứ hai, đề cao vai trò kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, vừa thu hút công nghệ từ bên ngoài, vừa tăng cường năng lực đổi mới, sáng tạo và tự chủ công nghệ trong nước.
Việt Nam cần đồng bộ và đa dạng hoá nhiều giải pháp từ chính trị, đối ngoại đến các cơ chế, chính sách kinh tế - tài chính thích ứng bảo đảm lòng tin chiến lược từ đối tác, nhất là các “đối tác chiến lược toàn diện”, để nhận được đầu tư FDI vào các ngành công nghệ cao hoặc được mua công nghệ cao, cho phép Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng công nghệ cao “mang tính bạn bè” trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu.
Đồng thời, triển khai nhanh và hiệu quả thực chất các chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Do đó, phải sớm thể chế hoá chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của đất nước về tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm; lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo trong tầm nhìn chung của đất nước. Nhà nước bên cạnh việc phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước, cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, có sứ mệnh dẫn dắt, hỗ trợ trở lại các doanh nghiệp nội địa khác cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải có chính sách riêng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, cũng như thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới công nghệ, tham gia các lĩnh vực chiến lược, phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, an ninh năng lượng và một số lĩnh vực đặc biệt trong các dự án quan trọng quốc gia; kiểm soát chặt chẽ tình trạng doanh nghiệp độc quyền và thao túng chính sách; bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu (trong đó có quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình), quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực thi hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân; giảm thiểu rủi ro pháp lý, hạn chế tối đa tình trạng thay đổi chính sách đột ngột gây tổn thất cho doanh nghiệp; tạo lập cơ chế hỗ trợ và bảo vệ nhà đầu tư tư nhân, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo…
Thứ ba, củng cố niềm tin chính trị, nỗ lực đột phá thể chế, tinh gọn và nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước và toàn hệ thống chính trị để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước theo hướng độc lập, tự chủ.
Động lực mới được cộng hưởng và gắn với kết quả trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài của quá trình tinh gọn bộ máy; củng cố lòng tin, cải thiện vị thế và sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, khai thác hiệu quả cơ hội đầu tư mới và các nguồn lực tiềm năng cho phát triển cả vĩ mô và vi mô, trước mắt và lâu dài, trong nước và ngoài nước.
Với tinh thần đó, trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ thời gian tới cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là về hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; coi trọng duy trì sự ổn định và phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hội nhập quốc tế; thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới động lực tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh chất lượng của nền kinh tế; tập trung tạo mọi điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết và lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hoà Nhà nước - Thị truờng - Xã hội trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách đa dạng hóa và phối hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế; khả năng tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và giữ vững lòng tin trên thị trường, củng cố uy tín quốc gia và niềm tin chiến lược quốc tế vào các đột phá thể chế Việt Nam có tính hội nhập cao và bền vững hơn, từng bước định hình một tầm nhìn mới, một thực tiễn mới và mở ra triển vọng phát triển mới trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển mình hội nhập cùng thế giới…
Không ngừng hoàn thiện, củng cố nhận thức toàn diện, đầy đủ, sâu sắc và tổ chức xây dựng hiệu quả mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, có sức chống chịu cao ở nước ta là biểu hiện và thước đo sự thành công bản lĩnh, trí tuệ về Đổi mới và Cách mạng của Đảng. Đồng thời, đó cũng là quá trình tạo lập và hiện thực hóa các mục tiêu, động lực và cơ chế để gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và để người dân được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn thành quả của công cuộc đổi mới; để giữ vững được ổn định chính trị và kinh tế, củng cố đồng thuận và đoàn kết xã hội, không ngừng cải thiện các quan hệ và vị thế quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn…
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 102;
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2016, tr. 111;
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021;
4. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;
6.https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824082/quan-diem-moi-ve-xaydung-nen-kinh-te-viet-nam-doc-lap%2C-tu-chu-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx#.
Tác giả:
PGS.TS Ngô Thanh Hoàng, Ủy viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
TS Nguyễn Minh Phong, Báo Nhân dân
(Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)