Từ đà tăng trưởng mạnh mẽ của năm 2025, kinh tế Việt Nam đã đi qua tháng đầu năm 2026 với nhiều điểm tích cực, tổng thu ngân sách nhà nước, kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng hóa đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. GS.TS. Hoàng Văn Cường, đại biểu Quốc hội khóa XV, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, dù đã đạt được bước tiến tích cực trong giai đoạn vừa qua song mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi quyết tâm mạnh mẽ, sự đồng thuận trong thực thi các giải pháp đột phá về phát triển hạ tầng, huy động nguồn lực.

GS.TS. Hoàng Văn Cường, đại biểu Quốc hội khóa XV, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Nền kinh tế Việt Nam đã khép lại năm 2025 và cả chặng đường 2021-2025 với nhiều kết quả ấn tượng. Mở đầu một giai đoạn mới, ông cảm nhận gì về những thành tựu đã đạt được và triển vọng trong thời gian tới?
Chúng ta vừa trải qua một năm 2025 đầy khó khăn và thách thức về nhiều phương diện với kinh tế Việt Nam. Trước hết, nền kinh tế có độ mở cao, động lực tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Do đó, việc Mỹ áp dụng thuế đối ứng ngay từ đầu năm đã tác động trực tiếp đến động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, năm 2025 cũng là năm thiên tai diễn biến phức tạp, bất thường, gây thiệt hại rất lớn. Theo ước tính, tổng thiệt hại do thiên tai lên tới gần 100.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 0,7% - 0,8% GDP. Năm qua cũng ghi nhận Việt Nam thực hiện cải cách, sắp xếp, tinh gọn mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, từ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, đến thể chế, pháp luật. Quá trình cải tổ sâu rộng này là vô cùng cần thiết, tuy nhiên, cũng đã gây ra những xáo trộn, gián đoạn nhất định trong việc triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh khó khăn như vậy, việc tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02% là một kết quả rất ấn tượng, thậm chí vượt xa nhiều dự báo ban đầu.
Từ kết quả năm 2025, nhìn lại cả chu kỳ kinh tế đầy biến động 2021-2025 cho thấy sự kiên cường của Việt Nam. Từ một nền kinh tế bị “ngưng trệ” bởi đại dịch, Việt Nam đã thực hiện một cuộc lội ngược dòng để khẳng định vị thế là điểm sáng tăng trưởng của khu vực.
Đầu nhiệm kỳ, đại dịch COVID bùng phát, ảnh hưởng toàn thế giới và gây ra những thách thức chưa từng có tiền lệ, dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế, lạm phát tăng cao ở nhiều quốc gia, tác động bất lợi với kinh tế Việt Nam. Khi nền kinh tế bắt đầu hồi phục tích cực thì chính sách thuế đối ứng của Mỹ và các bất ổn địa chính trị toàn cầu, thiên tai nặng nề đã giáng sức cản lớn, đe dọa tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy vậy, Việt Nam luôn giữ được vị thế là ngôi sao sáng trên bầu trời tăng trưởng kinh tế thế giới. Trong giai đoạn đại dịch COVID, nhiều quốc gia tăng trưởng “âm” nhưng kinh tế Việt Nam vẫn giữ xu hướng đi lên với mức tăng trưởng thấp nhất là 2,58% vào năm 2021, sau đó liên tục phục hồi và tăng cao. Năm nay, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn như vậy song tăng trưởng kinh tế vẫn đạt trên 8,02%. Nền kinh tế liên tục trên đà hồi phục tích cực, tiềm lực ngày càng được củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho đà tăng trưởng giai đoạn 2026-2030.
Với đà tăng trưởng như vậy, đến cuối năm 2025, quy mô GDP vượt mốc 514 tỷ USD, tăng khoảng 2,6 lần so với 10 năm trước và tăng gần gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ. Tốc độ tăng trưởng ấn tượng này tương đồng với giai đoạn phát triển của một số quốc gia từ nước có thu nhập thấp sang nhóm quốc gia có thu nhập cao và phát triển tích cực sau đó. Việt Nam cũng đang tiếp cận quy luật này.
Những điểm ấn tượng nhất trong cả giai đoạn là kinh tế vĩ mô luôn ổn định, môi trường đầu tư liên tục được cải thiện, trở thành điểm thu hút vốn đầu tư của thế giới và tạo tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, nền kinh tế bắt đầu có sự thay đổi theo một số động lực tăng trưởng mới từ kinh tế số, kinh tế xanh. Chủ trương đổi mới sáng tạo, phát triển mạnh khoa học công nghệ đã có những kết quả bước đầu, tạo điều kiện cho tăng trưởng cao dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn tới.
Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 đã được Quốc hội thông qua với mục tiêu phấn đấu tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2026 từ 10% trở lên. Từ chặng đường 5 năm qua, ông đánh giá như thế nào về triển vọng đạt mục tiêu này?
Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 đã được Quốc hội thông qua, xác định 2026 là năm có ý nghĩa quan trọng; là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng.
Theo đó, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên; GDP bình quân đầu người đạt 5.400 - 5.500 USD. Đặc biệt, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên, mở ra kỳ vọng về một giai đoạn phát triển bứt phá của nền kinh tế.
Mục tiêu tăng trưởng năm 2026 10% là rất thách thức, đặc biệt trên nền tảng tăng trưởng năm 2025 chỉ đạt hơn 8%, trong khi các động lực truyền thống hiện đã được khai thác tối đa, gần chạm ngưỡng. Năm 2026 muốn vượt qua thách thức phải làm mới động lực tăng trưởng cũ bằng cách khơi thông các nguồn lực, tiếp tục gỡ vướng pháp lý cho các dự án tồn đọng. Đồng thời, phải kết hợp giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân để huy động nhiều hơn các nguồn lực xã hội.
Bên cạnh đó, cần ưu tiên, chú trọng tới các động lực mới để chuyển đổi sang nền kinh tế mới dựa vào khoa học công nghệ, làm chủ chuỗi giá trị trong các lĩnh vực mới. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không quốc gia nào vượt qua bẫy thu nhập trung bình chỉ bằng tăng trưởng trung bình. Muốn bước sang nhóm nước thu nhập cao, cần một giai đoạn bứt phá với tốc độ tăng trưởng hai con số.
Việt Nam đang đứng trước một cơ hội phát triển hiếm có trong lịch sử, khi Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra một “vạch xuất phát mới” cho hầu hết các quốc gia. Trong các lĩnh vực như kinh tế số, kinh tế xanh, trí tuệ nhân tạo hay tự động hóa, khoảng cách giữa các nước không còn quá xa. Ai tiếp cận nhanh hơn, lựa chọn đúng trọng tâm hơn, người đó sẽ có khả năng bứt phá.
Trong chặng đường trước mắt, theo ông, lợi thế của Việt Nam là gì?
Lợi thế lớn của Việt Nam trong giai đoạn này chính là con người. Nguồn nhân lực Việt Nam có trí tuệ tốt, khả năng thích ứng cao và tinh thần học hỏi mạnh mẽ. Đây là nền tảng quan trọng để đất nước có thể tận dụng cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp mới. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, Việt Nam không có con đường nào khác ngoài việc phát triển dựa vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Vấn đề đặt ra là, rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ, mà nằm ở thể chế và tư duy quản lý. Đổi mới sáng tạo luôn đi kèm với rủi ro. Muốn có cái mới thì phải chấp nhận thử nghiệm, chấp nhận khả năng sai. Tuy nhiên, trong thực tế, rủi ro lớn nhất không phải là rủi ro công nghệ, mà là rủi ro của người ra quyết định. Người cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám ký, dám chịu trách nhiệm cho những cách làm mới hiện nay vẫn chưa thực sự được bảo vệ bằng một cơ chế đủ rõ ràng.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải cách thể chế, đầu tư hạ tầng. Hạ tầng ngày nay không chỉ là đường sá, sân bay hay cảng biển mà còn là hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, trung tâm dữ liệu quốc gia, hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin. Muốn phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức, hạ tầng số phải được đầu tư đồng bộ và đi trước một bước.
Để thực hiện những chiến lược phát triển như vậy, nguồn lực tài chính được đánh giá là rất quan trọng. Ông đánh giá như thế nào về khả năng huy động nguồn lực tài chính cho mục tiêu tăng trưởng của giai đoạn 2026-2030?
Với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình lên đến 6,3% cho cả giai đoạn 2021-2025, quy mô và nguồn lực tài chính của nền kinh tế đã tăng mạnh so với giai đoạn trước. Về ngân sách nhà nước, thu ngân sách tăng mạnh là nguồn lực quan trọng trước hết cho giai đoạn tiếp theo. Đáng chú ý, nguồn thu ngân sách nhà nước tăng mạnh, đồng thời cơ cấu thu tiếp tục chuyển dịch theo hướng bền vững, trong đó khu vực sản xuất kinh doanh giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời, chi ngân sách được cơ cấu lại theo hướng tiết kiệm chi hành chính, tăng chi cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội. Chi đầu tư phát triển đạt khoảng 32% - 33% tổng chi ngân sách nhà nước, trong khi bội chi và nợ công được kiểm soát trong ngưỡng an toàn. Trong giai đoạn 2021-2025, ngân sách nhà nước dành nguồn lực lớn để miễn, giảm, gia hạn thuế, phí với tổng quy mô khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và thúc đẩy phục hồi, tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác, thu ngân sách nhà nước tăng trưởng cao cùng với việc tiết kiệm chi đã tạo được nguồn vốn đầu tư lớn cho tăng trưởng. Tổng vốn đầu tư công dự kiến rót vào nền kinh tế năm 2026 lên mức trên 1 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với năm 2025. Điểm tích cực là đầu tư công đang được điều tiết có trọng tâm trọng điểm, tập trung vào nhiều công trình hạ tầng cốt lõi - xương sống, đặc biệt là hệ thống cao tốc, mạng lưới đường bộ kết nối, các cảng hàng không, cảng biển.
Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính mạnh mẽ từ thu ngân sách nhà nước tốt giúp Chính phủ chủ động trong việc điều hành, không bị áp lực bởi bội chi, từ đó giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát hiệu quả.
Ở khía cạnh khác, nguồn lực đầu tư từ xã hội vào nền kinh tế cũng rất lớn. Trong đó, vốn tín dụng từ ngân hàng lên đến hơn 10 triệu tỷ đồng trong cả giai đoạn 2021-2025 đã đóng góp không nhỏ cho tăng trưởng. Ngoài ra, vốn từ thị trường chứng khoán cũng hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế, kỳ vọng sẽ đóng góp nhiều hơn từ triển vọng nâng hạng thị trường, tạo sức hút với các nhà đầu tư trong nước và quốc tế và sự cải thiện mạnh mẽ hơn của thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
Một kênh huy động vốn tiềm năng khác là các quỹ đầu tư nhưng hoạt động còn rời rạc, chưa phát huy vai trò trong nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ hiện nay. Để phát triển các quỹ đầu tư tại Việt Nam đạt đến quy mô tương xứng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030, cần một chiến lược đồng bộ từ phía Nhà nước và nội lực của các công ty quản lý quỹ. Trong đó, cần có các hướng dẫn cụ thể, các chính sách hỗ trợ hoạt động của các quỹ, xây dựng văn hóa “ủy thác đầu tư” để cải thiện tình trạng “thừa nhà đầu tư cá nhân, thiếu nhà đầu tư tổ chức” và thay đổi tư duy của người dân từ việc tự “lướt sóng” với rủi ro cao sang đầu tư dài hạn thông qua quỹ.
Trân trọng cảm ơn ông!
Minh Anh (thực hiện)
(Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán - số tháng 2/2026)